Tuesday, April 11, 2017

MẸ GIƠ TAY ĐÓN


(viết nhân đọc bài Mẹ và Con của Trần Mộng Tú)

Trần Mộng Tú bắt đầu bài viết Mẹ và Con bằng câu: Buổi chiều đang xuống từ vòm cây trứng cá...  Một cách điềm tĩnh, thản nhiên, như đang tả một cảnh chiều bình thường. Nhưng không phải, buổi chiều đó không có trong hiện tại, mà chỉ hiện ra trong tâm trí đang chờn vờn mê ngủ của tác giả. Tác giả kể lại hôm sau: Tôi đi ngủ lúc mười một giờ rưỡi tối qua, được một giấc ngắn chợt thức dậy, nằm đếm cừu mãi vẫn không ngủ lại được, trong lòng lại tự nhiên thấy nhớ mẹ quá, mẹ đã mất cách đây hai mươi lăm năm... Bèn ra ngồi vào máy bắt đầu viết trong trạng thái tâm thần mông lung...

CUỐN KINH KHAI NGỘ


Năm 1947, tôi rời làng theo gia đình đi tản cư, những năm đi học ở “vùng tự do” tại liên khu 5 không có dịp được đọc nhiều sách. Trong vùng kháng chiến đời sống rất thôn dã, đi học nay đây mai đó trong những ngôi trường tạm bợ; không xuất bản, không hiệu sách, được đi học với những quyển vở giấy nội hóa đen thui đã là may mắn. Thỉnh thoảng cũng được một quyển sách mượn từ những gia đình giàu và học thức, truyện Tàu, và nói chung những cuốn tiểu thuyết xuất bản trước 1945. Tôi nhớ đã thấy, và đọc vài cuốn của Tự Lực Văn Đoàn trong thời gian này, và tôi hay nhìn bìa sau của cuốn sách, xem thư mục của từng tác giả như là nhìn vào một thế giới xa xôi không biết bao giờ mình mới có dịp biết hết những cuốn sách ấy. Nhìn mãi đâm ra thuộc những tên như Thừa Tự, Thoát Ly, Trống Mái, Tiêu Sơn Tráng Sĩ, Đoạn Tuyệt, Đôi Bạn, Bướm Trắng, Con Trâu, Bên Đường Thiên Lôi, A-Na-Kha-Lệ-Ninh... mỗi tên sách là một bí mật đối với tôi, có khi có thể tưởng tượng ra nội dung, có khi không hiểu ngay cả tên gọi --Cái Ve chẳng hạn, đó là cái gì vậy? Mới ngoài mười tuổi, học hành theo lối được chăng hay chớ của của thời kháng chiến thì kiến thức sách vở cũng trôi nổi lắm, nhưng những gì đọc được, dù với trí óc còn non nớt, cũng gây ấn tượng mạnh. Nhưng suốt thời gian tản cư tôi chẳng được đọc một quyển sách nào của Thạch Lam, ngoài cuốn Hạt Ngọc, thuộc loại Sách Hồng dành cho trẻ em.

ĐỌC "NHỚ TIẾNG À ƠI"


Trong mười mấy năm phụ trách trông coi bài vở cho tạp chí Thế Kỷ 21, tôi được dịp quen biết với nhiều nhà cầm bút. Nhiều người đã nổi tiếng trên văn đàn, cũng có những người mới bước vào công việc viết lách. Nhưng đối với ai, Tòa soạn cũng có nhiệm vụ đọc kỹ bài vở của họ để quyết định đăng hay không. Và kinh nghiệm thú vị nhất của người làm tòa soạn là khi khám phá một bài viết hay của một tác giả hoàn toàn xa lạ.

Wednesday, February 22, 2017

Monday, January 23, 2017

Wednesday, December 28, 2016

Phát biểu về tập thơ Tát Cạn Đời Sông của Phan Xuân Sinh




  (Trong buổi ra mắt tập thơ vào mùa xuân 2013 tại Quận Cam, California)


  Thưa các bạn,

Hôm nay các bạn cùng tôi chào đón một nhà thơ đồng hương đến từ Texas, anh Phan Xuân Sinh và tập thơ Tát Cạn Đời Sông mới ra đời của anh. Khi nói mấy chữ "nhà thơ đồng hương" tôi biết mình đã dùng chữ không chính xác, vì không phải tất cả các bạn có mặt hôm nay đều là đồng hương Quảng Nam với anh Phan Xuân Sinh, nhưng tôi xin phép dùng mấy tiếng đó, thứ nhất là chắc số người đồng hương với anh Phan Xuân Sinh trong phòng này cũng khá đông, trong đó có tôi, thứ hai là tôi muốn chia sẻ với tất cả các bạn một vài cảm nghĩ khi đọc thơ anh Phan Xuân Sinh, mà tôi tạm đặt tên là: thơ của người đồng hương.

Monday, November 21, 2016

Sunday, November 13, 2016

Gối đầu đá thu


Bao giờ nhà rợp mây trời  
đun trà nước suối, gối đầu đá thu

(phỏng dịch thơ Nguyễn Trãi =
hà thời kết ốc vân phong hạ
cấp giản phanh trà, chẩm thạch miên) 
 
Hai chữ đá thu mà Dung dùng trong câu thơ chắc chắn gây một ngỡ ngàng cho người đọc, vì nó lạ, vì từ trước tới nay không ai dùng như thế. Có lẽ Dung là người đầu tiên dùng thu ghép với đá, một thứ xưa nay vẫn trơ trơ với sự thay đổi của thời tiết. Làm sao lòng người có thể đồng cảm được với hình ảnh mới mẻ này? Thiên nhiên biến chuyển thì dễ gây xúc động lòng người, ví dụ lá cây, khi thu tới đổi màu, thì con người tạo ra ngay chữ lá thu để diễn tả một hiện tượng của thiên nhiên thay đổi, trong khi đó đá thì thiếu gì quanh ta nhưng không ai nói tới, vì nó không thay đổi gì cả, nó trơ trơ.

Thay vì lá thu như bao người đã viết, Dung đã dùng chữ ĐÁ THU. Thì sao?

Đá thu thì có gì khác với đá xuân, đá hè? Không khác gì cả, về mặt vật lý. Nhưng đối với một người sáng tác, không nhất thiết phải tuân theo định luật ấy, mà chỉ tuân theo cái cảm trong lòng mình. Trong văn cảnh nhân vật pha trà với nước suối, thì có gì ngăn được người sáng tác nghĩ rằng cảnh đó xảy ra trong mùa thu, với khí hậu không nóng lắm và không lạnh lắm, thì cứ cho nhân vật ngả lưng lên một TẢNG ĐÁ THU. Đó là sáng tác, là sáng tạo, vốn là cái vô bờ bến. Vấn đề là người đọc có chấp nhận được cách nói mới mẻ đó không. Nhưng người đọc, thực ra chỉ là người thụ hưởng sự sáng tạo của thi nhân, phải chấp nhận hình ảnh tấm phản đá trong mùa thu ấy. Và dần dần ĐÁ THU sẽ được chấp nhận như một từ ngữ sáng tạo để diễn tả một tình huống nào đấy của cuộc sống muôn mặt của con người.
m

Sunday, November 6, 2016

Trần Doãn Nho @ Trò chuyện với nhà văn Phạm Phú Minh

Lời Giới thiệu của Trần Doãn Nho (TDN): Tôi quen nhà văn Phạm Phú Minh (PPM – bút hiệu Phạm Xuân Đài) qua Thế Kỷ 21, tờ tạp chí tôi cộng tác từ lúc anh làm chủ bút cho đến số cuối cùng. Có một khoảng thời gian, anh mời tôi vào Ban Biên Tập cùng với một số nhà văn nhà thơ khác. Ngoài việc đóng góp bài vở khá thường xuyên, trong một vài số đặc biệt, tôi cộng tác với anh Minh để thực hiện. Như số về Hồ Hữu Tường, tôi là người trực tiếp đến nhà người con gái của Hồ Hữu Tường, chị Hồ Huệ Tâm, đang dạy ở đại học Harvard, để thu thập một số tài liệu và thực hiện cuộc phỏng vấn. Hay số đặc biệt về Trần Văn Tuyên. Vị cựu phó thủ tướng này có cô con gái ở cùng thành phố với tôi, tôi liên lạc với cô để tìm thêm tài liệu. Hà Nội trong mắt tôi, tác phẩm đầu tay của anh do nhà văn Nguyễn Mộng Giác biếu tôi, là một trong những tác phẩm đầu tiên mà tôi được đọc khi ra hải ngoại. Cái tựa đề khá nhạy cảm này cộng với bút danh Phạm Xuân Ðài mới mẻ khiến cho tập bút ký này trở thành “vấn đề” lúc mới phát hành, gây xôn xao trong cộng đồng người Việt tại một vài nơi, kể cả ở Boston, nơi tôi định cư, khi tác giả đến đây trong một lần ra mắt sách. Nhưng rồi mọi chuyện ổn thỏa khi người ta biết về tác giả và đọc nội dung tác phẩm.

Thursday, October 27, 2016

Trao đổi về cuốn "Kỷ Yếu Triển Lãm và Hội Thảo về báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn"


Thư Nguyễn Bá Dũng từ Hà Nội 17.10.2014:

Chiều qua em đi lấy sách rồi. Thật tuyệt, em không biết nói gì hơn trước một cuốn sách làm trang trọng như vậy.

Cả một chương trình, cho đến sách kỷ yếu, đều hoàn mỹ. Em coi đây là 1 dấu ấn quan trọng. Cám ơn anh.

em Dũng

Sunday, October 23, 2016

Thursday, October 20, 2016

Chữ nghĩa

Trong tiếng Việt có tới khoảng 60 phần trăm tiếng có gốc chữ Hán, nhưng mức độ Việt hóa của những chữ đó nặng nhẹ khác nhau. Nhiều tiếng hầu như đã Việt hóa hẳn, truy ra thì mới thấy nó có cái gốc chữ Hán đã phai mờ nhiều rồi, thông thường được coi như là một chữ thuần Việt. Trong khi đó nhiều chữ khác vừa đọc lên là biết ngay là có gốc Hán.

Một lần đến Hàng Châu....

Xuân thủy bích ư thiên, Họa thuyền thính vũ miên
Nước xuân biếc hơn trời, trong thuyền nghe mưa ng

Vi Trang

Đúng là anh có nhiều kinh nghiệm du lịch Trung Quốc, và phải nhận là tài nguyên du lịch của xứ này là mênh mông vô tận. Xứ của họ rộng lớn quá, nền văn minh cổ của họ rực rỡ quá, nên những cảnh, những tình cảm mà du khách, nhất là người Việt Nam vốn chịu ảnh hưởng lớn của Trung Quốc từ nghìn xưa, nhìn thấy và cảm nhận thì vô cùng phong phú. Thành phố này chỉ là một nét nhỏ trong không biết bao nhiêu điều siêu phàm tại xứ này. 


Nhưng tả lại những điều đã thấy và cảm thì anh thấy em lại có nhiều khả năng hơn anh. Lý do: em biết nhiều thơ chữ Hán của các bậc danh sĩ, và có tài lựa chọn, trích dẫn những câu đắt nhất để mô tả cảnh và tình. Thật ra, nhiều khi chỉ cần dăm ba câu là đủ diễn đạt cái thần của cảnh trí, hơn hẳn một bài dài mà ngôn từ lung tung, không đạt được đến cái "tinh thể của ngôn ngữ" như Bùi Giáng thường nói.

Wednesday, October 19, 2016

Chữ "hè" của người Quảng Nam

Chữ , ngoài những ý em vừa liệt kê, có một ý chính, là đề nghị.  Ngồi giữa một đám bạn, một người nào đó nói một câu mà có chữ ở cuối thì dứt khoát có nghĩa là bày đặt một cái gì mới đấy, và rủ mọi người cùng theo. Đó là lối nói của anh suốt thời thơ ấu và thiếu niên trước khi rời quê vào Sài Gòn học.

Trong đời sống bình thường, người Quảng Nam không dùng chữ kép hè hè. Anh chỉ gặp lối dùng này trong một bài đồng dao mà con nít lứa tuổi của anh ngày xưa hay đọc:
Con nít con nít
Cái hình nhỏ xít