Friday, May 12, 2017

NHỮNG GÌ THẤY ĐƯỢC ‘TRONG ĐỐNG TRO TÀN’ CỦA TRẦN VĂN THỦY



  
Theo sự hiểu biết của tôi thì nhà văn, nhà đạo diễn điện ảnh Trần Văn Thủy là người đầu tiên sống trong xã hội Việt Nam đương thời đã đặt vấn đề Tử Tế bằng tác phẩm của mình. Cuốn phim tài liệu Chuyện Tử Tế của ông thực hiện năm 1985, được công bố ít năm sau đó, đã gây một chấn động trong lương tâm của con người, không những của người Việt Nam mà còn nhiều nơi trên thế giới.

Có chuyện gì vậy? Chuyện tử tế? Thì có gì lạ? Chẳng phải là từ khai thiên lập địa con người vẫn sống giữa cuộc tranh đấu giữa cái Thiện với cái Ác đó sao, một cuộc tranh đấu bất tận như tên của một cuốn phim Mỹ: From Here To Eternity -Từ đây cho đến mãi mãi về sau, được người Pháp chuyển dịch thành Tant qu’il y aura des hommes -Cho đến khi nào còn con người. Hai cái tên tiếng Anh và tiếng Pháp của cuốn phim nổi tiếng ấy đều cho thấy cuộc xung đột giữa cái tốt và cái xấu nó sẽ còn mãi mãi trong xã hội loài người, khiến người ta phải nghĩ một cách sâu xa hơn, là bản chất và mục tiêu đời sống của chúng ta chính là cố gắng đẩy lùi cái xấu để cái tốt được lên ngôi.

Nhưng nghĩ cũng lạ, cái trật tự tinh thần để phân biệt tốt xấu thì đã được con người xác định từ rất xa xưa, có lẽ ngay từ bản năng của sự sống: mạng sống là tốt, giết hại là xấu; thương yêu là tốt, thù hận là xấu; tự do thoải mái là tốt, gông cùm kiềm hãm là xấu; sáng kiến phát triển là tốt, hủ lậu trì trệ là xấu; no cơm ấm áo là tốt, đói rét là xấu... Những cặp tốt xấu như thế có thể kể ra vô tận, cho thấy thân phận của con người thật ra rất chênh vênh, nhưng kinh nghiệm sống và sự thăng hoa tinh thần của con người trong quá trình “thành người” của mình đã khẳng định phía nào nên theo, cái gì nên loại bỏ. Ý thức đó tạo nên ĐẠO LÝ chung cho cuộc sống của con người đông tây kim cổ.

Chuyện con người sống tử tế với con người và vạn vật chẳng qua cũng chỉ nằm trong Đạo Lý ấy mà thôi, nhưng sở dĩ có người như Trần Văn Thủy phải làm phim để đặt ra như một vấn nạn trước lương tâm con người, là vì cuộc sống trong cơ chế đang ngự trị trên đất nước Việt Nam xem ra thiếu vắng sự Tốt lành mà ngược lại, nghiêng về phía cái Ác. Đây không phải là chuyện tốt xấu trong một xã hội bình thường, mà là kết quả của một chế độ khác thường. Vì thế nguy cơ của cái Ác trở thành một khuynh hướng đè bẹp cái Thiện ngày càng rõ rệt, và đã trở thành một nguy cơ cho đất nước và dân tộc Việt Nam.

Phim Chuyện Tử Tế ra đời năm 1985, tính năm nay 2016 đã là 31 năm, vậy hành trình của nó và của tác giả làm nên nó, hiện đã tới đâu rồi? Câu chuyện nó vượt biên một cách bí mật để đến được Liên Hoan Phim Leipzig Đông Đức cuối năm 1988 có thể dựng thành một cuốn phim trinh thám nghẹt thở. Và sau khi nó chiếu và được nhiệt liệt hoan nghênh tại liên hoan này thì tới phiên tác giả của nó lập tức “vượt biên” sang Pháp ngay trong đêm đó, cũng nghẹt thở không kém. Khi đã đến Pháp, tác giả của nó mới biết Chuyện Tử Tế đã được giải thưởng Bồ Câu Bạc ở liên hoan phim Leipzig. Rồi nó được chiếu trong rạp hát và đài truyền hình Pháp. Rồi nhiều nước khác đã mua phim Chuyện Tử Tế...

Đạo diễn Trần Văn Thủy vào thời điểm tham dự liên hoan phim Chuyện Tử Tế đã đứng trước một đường ranh giới rất mong manh, hoặc nó đoạt được giải thì ông là người có công, được quay về Việt Nam an toàn, hoặc nó không gặt hái được gì cả thì ông bắt buộc phải chọn con đường lưu vong tại Tây Âu.

Nhưng sự tử tế đã mỉm cười với ông, và hôm nay đạo diễn Trần Văn Thủy, ở tuổi 76, và đã đúc kết mọi chuyện với cuốn sách Chuyện Nghề Của Thủy và cuốn Trong Đống Tro Tàn mà độc giả đang cầm trên tay. Hình ảnh “đống tro tàn” mà tác giả gợi ra nó như thế nào là tùy cách nhìn của người đọc, nhưng với tác giả, thì tôi đoán cái tên đó phần nào cũng là tổng kết cái hành trình mà ông đã đi suốt nửa thế kỷ qua, tròn 50 năm (1966-2016). Chưa hẳn nó có ý nghĩa tiêu cực như khi chúng ta đứng trước một căn nhà đã bị thiêu rụi, mọi thứ đã thành tro, mà chỉ là tổng kết thời gian gần cả đời người với nhiều nỗi truân chuyên gay cấn liên tục với một chủ đề gần như duy nhất: sự tử tế. Đống tro tàn chỉ là một cách nói, có thể là một ám chỉ rằng trong cái đám ngổn ngang đó vẫn còn sót lại một vài tàn lửa sẽ làm bùng lên ngọn lửa của cái Thiện.

Nhưng có một điều chắc chắn, trong đống mà tác giả gọi là tro tàn này chứa đựng một tấm lòng hừng hực nóng, qua các câu chuyện đời của tác giả. Có nhiều chuyện được kể lại, xem qua thì là những chuyện vui buồn, những kỷ niệm trong đời, nhưng tất cả hầu như chỉ một chủ đề, đó là sự thăng hoa tốt đẹp của bản chất con người, mà các tôn giáo lớn từ hàng ngàn năm trước đã nhìn ra và dẫn dắt nhân loại.
Đây có thể là tác phẩm văn học cuối cùng của ông, vì có cả lời trăng trối căn dặn mọi chuyện sau khi ông qua đời. Trong Mấy Lời Gửi Lại, xem như là Di Chúc của ông, sau những dặn dò cụ thể liên quan đến tang lễ và việc gia đình, gia tộc, ở phần cuối ông viết:
“Hình như trên đời này chẳng có mấy ai khi nhắm mắt xuôi tay lại không nuối tiếc việc nọ, việc kia. Phần tôi, tự xét mình là thường dân nhưng đã cố gắng trong mọi hoàn cảnh, mọi bổn phận. Sức của tôi có hạn, tôi chỉ thương xót cho bọn trẻ, con cháu tôi và con cháu chúng ta. Chúng thừa hưởng một gia tài quá bề bộn của tiền nhân để lại. Không dễ gì để chúng có được một cuộc sống hạnh phúc đúng nghĩa mà thế hệ chúng ta hằng mơ ước cho chúng.

Dẫu sao, tôi xin chân thành cầu chúc cho mọi người được sống trong niềm vui, trong an bình và sự thanh thản của một xã hội lương thiện, tử tế hơn”.

Điều ông nuối tiếc là ở chỗ lớp con cháu sẽ không được sống hạnh phúc đúng nghĩa mà thế hệ ông hằng mong ước, nghĩa là sống trong một “xã hội lương thiện, tử tế hơn”. Một chữ “hơn” đầy ý nghĩa, nói lên thực tại đáng buồn của xã hội Việt Nam trong hiện tại.

Chương 2, Cha Tôi, là một bài viết mà tôi cho quan trọng nhất trong tập sách này. Kể lại cuộc đời cha mình, ông đã ghi rõ “tưởng nhớ về Thầy - người Cha đẻ và là người Cha tinh thần của con” cho thấy cái nhìn đầy yêu mến và khâm phục của ông về thân phụ của mình, mà theo tôi, ông coi là một mẫu mực, một tấm gương cho suốt cuộc đời của ông.

Có một câu nói của thân phụ ông mà suốt đời ông không quên, đó là câu thân phụ ông thốt ra một cách bình tĩnh sau khi chứng kiến cảnh người bạn thân của mình (bác Phó Mâu) đã bị bắn chết trong cuộc đấu tố:

“Sau hôm về chợ Cồn để chôn cất bác Phó Mâu, Thầy tôi lên gác nằm. Một lát sau ông cho gọi tôi và Lai, người em sát tôi lên. Hai chúng tôi ngồi chờ bố bảo gì. Ông vẫn nằm vắt tay lên trán, im lặng. Không hiểu sao những lúc Thầy tôi im lặng như thế tôi rất sợ, tôi lên tiếng rất khẽ:
- Thầy bảo gì chúng con ạ?
Một lát sau ông mới thủng thẳng nói một câu rất ngắn: - Hỏng - hẳn - rồi - các - con ạ!
Tôi không hiểu. Lúc đó tôi hoàn toàn không hiểu. Tôi hỏi lại:
- Thầy bảo gì cơ ạ?
- Thầy và bác Phó Mâu đã giúp Việt Minh quá nhiều, bây giờ bác chết oan, Thầy không còn tin vào cái gì nữa!
Trong cuộc đời, tôi rất nhớ những điều Thầy tôi đã nói với tôi. Đây không phải là lúc kể ra tất cả, nhưng cái câu đau đớn, bất đắc chí: " Hỏng - hẳn - rồi - các - con ạ"! Thì chắc chắn xuống mồ tôi cũng không thể nào quên được”.
Kể ra một người trong tuổi thiếu niên mà được nhận lãnh một câu nói như thế từ cha của mình trong một hoàn cảnh đặc biệt của đất nước thì cũng khó mà quên được. “Hỏng-hẳn-rồi-các-con-ạ” là một khẳng định khái quát cả một sự sụp đổ toàn diện trong tâm hồn người cha, truyền lại cho các con mình nhận thức về tương lai của cái chế độ mà họ đang sống trong đó với biết bao kỳ vọng chế độ đó sẽ mở ra một thời kỳ tốt đẹp cho đất nước. “Hỏng hẳn rồi” đã ghi một dấu ấn quan trọng nhất trong lòng tác giả khi mới lớn, để suốt đời ông luôn để tâm nhìn thấy nó hỏng ở chỗ nào, và định hướng các hành vi của ông để lên tiếng cảnh báo cho mọi người về cái nguy cơ vô cùng thảm khốc cho cả một dân tộc.

Trong cuốn sách mà có vẻ tác giả cho là cuối cùng này của mình, chúng tôi nghĩ chương Cha Tôi là nơi Trần Văn Thủy khẳng định điều tâm huyết nhất trong đời mình, đó là nét Đạo Lý mà cha ông đã truyền cho ông. Đạo Lý ấy cha ông đã tiếp nhận từ truyền thống của dân tộc Việt Nam, nó cũng không khác với Đạo Lý chung của nhân loại đã có từ ngàn đời.

Trần Văn Thủy thì quan tâm và suy nghĩ rất nhiều về vấn đề nền tảng ấy trong các chương khác trong cuốn sách này. Ông vốn là người làm phim tài liệu, luôn luôn ghi nhận và viết xuống những đề tài mà ông cho là đáng làm phim trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của ông, nhưng tiếc thay không mấy dự định của ông đã được thực hiện. Chương “Những kịch bản không thành phim” ông ghi lại nội dung những đứa con điện ảnh không bao giờ được ra đời ấy, với những nhận xét có khi nhiều phẫn nộ.

Ví dụ từ năm 1980 ông đã có một kịch bản về Trịnh Công Sơn:

“Một kịch bản khác tôi tâm đắc vô cùng đó là khi tôi viết về Trịnh Công Sơn năm 1980. Có lẽ khi ấy vừa ở Nga về, vừa làm xong bộ phim "Phản bội" nổi tiếng (1979 - 1980), đang "hăng tiết vịt", tôi đã viết về Trịnh Công Sơn. Tôi kể những ngày tháng nằm hầm ở chiến trường miền Nam (1966 - 1969), mở trộm đài Sài Gòn, nghe nhạc Trịnh mà nổi da gà. Những Đại bác đêm đêm vọng về thành phố/Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe/Những Người con gái Việt Nam da vàng… Con người miền Nam, hơi thở miền Nam, nhạc Trịnh ám ảnh tôi. Sao lại yêu thương đến thế! Sao lại da diết lay động đến thế! Vấn đề tôi đặt ra trong kịch bản đó không chỉ là những giai điệu, những ca từ hút hồn của nhạc Trịnh mà tôi tự vấn: Mảnh đất nào, văn hóa nào, phẩm hạnh nào đã nuôi dưỡng một tâm hồn trong sáng và chân thiện đến thế, đã sản sinh ra con người chân tình đến thế? Nếu như Karl Marx nói: "Con người là sản phẩm của tổng hòa mọi quan hệ xã hội" thì cái xã hội miền Nam đầy rẫy những "Tội ác và tàn dư của Mỹ Ngụy" ấy tại sao lại sản sinh ra Trịnh Công Sơn?”
Ba mươi năm sau khi làm phim Chuyện Tử Tế để kêu gọi lòng tử tế trong xã hội mình đang sống, đạo diễn Trần Văn Thủy cay đắng nhận ra mình vẫn sống trong xã hội ấy, nhưng:

“Ngày nay trong một chế độ nhân danh sự ưu việt, người ta lại thấy bao điều xót xa trong quan hệ giữa người với người. Tham nhũng, bè phái, cửa quyền. Đạo đức xuống cấp một cách khủng khiếp.” ...
“Ai cũng biết rằng tòa án và pháp luật chỉ làm công việc giải quyết hậu quả của hành động. Còn muốn ngăn chặn cái mầm gây ra tội ác, làm nó triệt tiêu khi còn trong trứng, triệt tiêu ngay trong ý nghĩ của con người, thì không gì bằng tôn giáo” (...) “tôn giáo nói chung, cái đạo chân chính nào cũng khuyên con người nghĩ thiện, làm thiện, tránh xa tội lỗi, xa điều độc ác. Và như vậy nó góp phần tích cực vào việc giữ gìn đạo đức, trật tự an ninh xã hội, làm cho đất nước lành mạnh”.

Mỗi một chương của cuốn sách này là một câu chuyện hay, có thể nói là hấp dẫn, nhưng luôn luôn ẩn nỗi cảm động, thấm thía và rất lôi cuốn người đọc. Tác giả quan sát rất tinh tế về các nhân vật mình quen biết, các sự kiện vui buồn xảy ra với mình, nhưng khi kể ra thì chuyện nào cũng đáng là một bài học cho người đọc, bài học về nhân cách, về thái độ sống ở đời với một chủ đề bất biến là tích cực nhấn mạnh về sự tử tế, lòng nhân ái.

Tác giả có sự quan hệ rất rộng rãi, đề tài viết có thể là về giới làm phim Nhật Bản, hoặc những người Mỹ hoạt động văn hóa và nhân đạo; về việc thực hiện một cuốn phim tài liệu về nhà thờ Phát Diệm với kiến trúc tôn giáo độc đáo; về một người thầy thuốc hiếm có về bệnh phong cùi, Bác sĩ Trần Hữu Ngoạn, mà khi đọc xong câu chuyện của ông, độc giả chỉ có thể thốt lên: đó là một bậc Thánh, hoặc là một Bồ Tát; về nhạc sĩ Phạm Duy là người ông rất hâm mộ từ thời còn rất trẻ...

Với con mắt quan sát tinh nhạy của một đạo diễn phim tài liệu cộng với một tấm lòng đề cao cái Thiện và chống lại cái Ác, và cộng thêm nữa sự sắc sảo tinh quái của một người sống trong sự kềm cặp mà lúc nào cũng khao khát xé rào để rao giảng những điều chẳng phù hợp chút nào với đường lối của xã hội đương thời, Trần Văn Thủy rất xứng đáng với câu nhận xét sau đây của Larry Berman, một nhà văn Mỹ:

“... on a war that ravaged so many, yet left us with survivors like Tran Van Thuy, war photographer, filmmaker and ultimately philosopher.”
“... về một cuộc chiến đã hủy hoại biết bao sinh mạng, nhưng đã để lại cho chúng ta những người sống sót như Trần Văn Thủy, một nhà quay phim thời chiến, một đạo diễn điện ảnh, và cuối cùng là một triết gia.”
[Trích từ lời Tựa trong bản dịch sang Anh ngữ cuốn tự truyện Trong Mắt Ai (In Whose Eyes) của Trần Văn Thủy]

Nhìn cuộc sống ở một xã hội mà ông phải sống và rút ra từ đấy những nhận xét, những phán đoán, thẩm định nhằm phá vỡ hàng rào dây thép gai ý thức hệ quái đản trong thời đại của chúng ta, thì ngoài vai trò nghề nghiệp, đúng Trần Văn Thủy còn là một triết gia, một triết gia dấn thân với những tác phẩm văn học nghệ thuật rất can đảm và hết sức sâu sắc của ông.

Chẳng hạn, nếu chúng ta được xem phim Chuyện Tử Tế, hoặc ít ra được xem kịch bản của phim do chính đạo diễn viết, chúng ta sẽ thấy lời bình trong phim quan hệ tới mức độ nào. Không có lời bình thì chỉ là một phim câm, cái đó đã hẳn, nhưng điều quan trọng, đó là lời bình do Trần Văn Thủy viết. Lời ấy là linh hồn của phim. Đó là những lời gãy gọn dễ hiểu nhưng mang khả năng khái quát rất cao - xem/nghe tới đâu thấm thía tới đó, và đặc biệt là nó có khả năng dẫn dắt người xem hiểu ra ngoài, vượt lên trên những gì đang xem. Như thế, lời bình đã chứa đựng triết lý của sự việc, sự vật, nâng chúng lên một tầng phổ quát.

Cách đây hơn mười năm Trần Văn Thủy đã xuất bản cuốn sách có nhan đề Nếu Đi Hết Biển, nêu lên một thắc mắc vừa cụ thể vừa siêu hình: nếu đi hết biển thì sẽ tới đâu? Thoạt đầu với khái niệm trái đất tròn, tác giả cho rằng “nếu đi hết biển, qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi thì cuối cùng lại trở về quê mình, làng mình”. Nhưng nhiều năm sau, khi tác giả đã đi đến đất Mỹ thì mới thấy rằng người Việt xa xứ “qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi” mà cuối cùng không thể “trở về quê mình, làng mình” được.

Cuốn sách mới nhất Trong Đống Tro Tàn này cho chúng ta cảm tưởng tác giả không còn điều thắc mắc ấy nữa. Con đường địa lý của quả địa cầu dù trên mặt đất hay mặt biển thì rất rõ ràng, đi mãi thì có thể trở về nơi mình xuất phát. Nhưng con đường của lòng người, với bao nhiêu thứ hệ lụy của cuộc sống thì không thể vạch một lộ trình đơn giản nào. Tâm trạng và mục tiêu của người Việt Nam khi dong thuyền ra khơi để làm một chuyến vượt biên không lãng mạn tự hỏi đi hết biển thì sẽ đến đâu, mà là nhắm tới một bến bờ cụ thể nào đó mình có thể sống được một đời sống tự do, xứng đáng là của một con người. Nhưng một khi cuộc sống đã ổn định trên miền đất mới, thì chắc chắn con đường quay về quê cũ trong lòng họ vẫn còn, dưới rất nhiều dạng: chính trị, kinh tế, tình cảm... hoặc lắm khi chỉ là một giấc mơ về một đất nước tốt đẹp hơn, đáng sống hơn.

Nhưng đâu phải chỉ có con đường cụ thể với hai hướng đi và về nó ràng buộc chúng ta. Trong lòng bất cứ ai cũng có thể mở ra vô số con đường sẽ dẫn đến vô số nơi mà chính trong tác phẩm Trong Đống Tro Tàn tác giả luôn luôn đề cập tới: con đường của lòng tử tế, của sự nhân ái. Con đường tình người rộng rãi thênh thang...

Nhạc sĩ Phạm Duy khi viết câu kết cho trường ca Con Đường Cái Quan của ông, đã mô tả cảm nhận của người Việt Nam khi đã hoàn tất cuộc Nam Tiến của mình tại Mũi Cà Mau:

Đường đi đã tới ! Lòng dân đã nối !
Người tạm dừng bước chân vui ! Người ơi !
Người mơ ước tới : đường tan ranh giới
Để người được mãi
Đi trong một duyên tình dài.
Con đường thế giới xa xôi,
Trong lòng dân chúng nơi nơi.

Phải chăng khi viết những câu này vào năm 1960, Phạm Duy đã có tiên cảm về “con đường thế giới xa xôi” mà người Việt Nam sẽ dấn bước vào, và sau này đã gây thắc mắc về một bờ bến nơi Trần Văn Thủy? Nhưng Phạm Duy cũng thấy ra niềm vui trong “một duyên tình dài”, phải chăng đó là tình của nhân loại, của sự Tử Tế, của lòng Nhân Ái mà Trần Văn Thủy thao thức và vận động suốt đời ông để mong cho nó thắng cái xấu và cái ác?

Nam California ngày 01 tháng Mười Một, 2016.

Phạm Phú Minh



Điện thư của đạo diễn Trần Văn Thủy gửi Phạm Phú Minh ngày 12 tháng 5, 2017

Anh Phạm Phú Minh thân quý !

Anh có khỏe không ? Mọi việc vẫn bình an đấy chứ ? Bao giờ anh có ý định về Việt Nam ?
Tùy hứng thú và hoàn cảnh của anh thôi.
Xứ sở này niềm vui thì ít, nỗi buồn thì nhiều.

Các cháu giúp tôi, mới chuyển về được 80 cuốn TĐTTàn, tôi đã phân phát cho bằng hữu (Saigon, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, Hải Phòng, Hà Nội) hết sạch. Ở Sài Gòn nhiều người đã đọc do thân nhân ở Mỹ gửi về.

Tôi muốn nói với Anh rằng : Mọi người đều rất có thiện cảm với anh qua bài viết của Anh. Họ thấy rằng Anh là người có tấm lòng rộng mở, hiền hòa, một sự hiểu biết sâu sắc và hết sức chân tình. Chưa có người nào không cảm thấy hứng thú khi đọc bài của Anh. Họ so sánh bài của anh thì lịch lãm là vậy, bên cạnh LỜI MỞ của tôi thì bổ báng và cay độc quá chừng... (Tôi có nói với mấy người thân rằng : sau 1975 ông ta đã đi tù CS 13 năm rồi đó).

Rất mừng là Đinh Quang Anh Thái đã sáng suốt mời Anh giúp đỡ. Tôi vô cùng cảm kích về sự hỗ trợ, cảm thông của Anh, của ĐQAThái, cháu NPhương và những cộng sự khi cho ra đời cuốn sách nhỏ mọn của tôi. Đó chắc là những kỷ niệm, những hành trang hữu ích đối với tôi ở cuối cuộc đời này.

Cầu chúc Anh cùng những người thân yêu của Anh luôn mạnh giỏi, nhiều niềm vui cùng vạn sự An Lành !
Một lần nữa cám ơn Anh !

TVThủy

Thư trả lời của Phạm Phú Minh, cùng ngày :


Anh Trần Văn Thủy thân mến,

Được thư anh, tôi vừa cảm động vừa sung sướng. Theo như mô tả của anh về phản ứng của người đọc sách trong nước thì bài viết của tôi cũng tạm làm trọn nhiệm vụ giới thiệu của nó. Như thế là tôi mừng lắm rồi !

Nhưng anh Thủy ơi, cái được giới thiệu mới là quan trọng, đó là cái khẳng định phẩm chất của lời giới thiệu. Nói cách khác, tôi chỉ là tấm gương phản chiếu ánh sáng của anh mà thôi. Lấy một hình tượng cụ thể, tôi là mặt trăng phản chiếu một thứ ánh sáng hiền lành xuống mặt đất sau khi nhận được ánh sáng rực rỡ dữ dội từ mặt trời Trần Văn Thủy. Chỉ là một hình tượng để ví dụ thôi, không phải tâng bốc nhau, nhưng trong đó hàm chứa sự thật : người giới thiệu chỉ thuần túy làm công việc phản chiếu lại những gì nhận được, dĩ nhiên qua lăng kính của mình. 

Cái lăng kính ấy, tôi nghĩ, phải chứa nhiều tính chất "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" với nguồn sáng nó nhận được thì mới phát ra được sự phản chiếu trung thực. Đó là cái duyên gặp gỡ giữa hai tâm hồn chúng ta vậy. Tôi phải cám ơn anh, cám ơn cái duyên đưa đẩy để tôi được hân hạnh viết những gì từ anh : đó là cái duyên thật lành.

Trên đời không có gì quý hơn cái duyên lành đó anh ạ. Muốn có được cái duyên đó, trước hết chúng ta đều cùng phải có cái tâm lành đã, và đó chính là nguồn gốc của sự "đồng thanh tương ứng" vậy.

Thân mến cùng anh Thủy.

Phạm Phú Minh


Tuesday, April 11, 2017

MẸ GIƠ TAY ĐÓN


(viết nhân đọc bài Mẹ và Con của Trần Mộng Tú)

Trần Mộng Tú bắt đầu bài viết Mẹ và Con bằng câu: Buổi chiều đang xuống từ vòm cây trứng cá...  Một cách điềm tĩnh, thản nhiên, như đang tả một cảnh chiều bình thường. Nhưng không phải, buổi chiều đó không có trong hiện tại, mà chỉ hiện ra trong tâm trí đang chờn vờn mê ngủ của tác giả. Tác giả kể lại hôm sau: Tôi đi ngủ lúc mười một giờ rưỡi tối qua, được một giấc ngắn chợt thức dậy, nằm đếm cừu mãi vẫn không ngủ lại được, trong lòng lại tự nhiên thấy nhớ mẹ quá, mẹ đã mất cách đây hai mươi lăm năm... Bèn ra ngồi vào máy bắt đầu viết trong trạng thái tâm thần mông lung...

CUỐN KINH KHAI NGỘ


Năm 1947, tôi rời làng theo gia đình đi tản cư, những năm đi học ở “vùng tự do” tại liên khu 5 không có dịp được đọc nhiều sách. Trong vùng kháng chiến đời sống rất thôn dã, đi học nay đây mai đó trong những ngôi trường tạm bợ; không xuất bản, không hiệu sách, được đi học với những quyển vở giấy nội hóa đen thui đã là may mắn. Thỉnh thoảng cũng được một quyển sách mượn từ những gia đình giàu và học thức, truyện Tàu, và nói chung những cuốn tiểu thuyết xuất bản trước 1945. Tôi nhớ đã thấy, và đọc vài cuốn của Tự Lực Văn Đoàn trong thời gian này, và tôi hay nhìn bìa sau của cuốn sách, xem thư mục của từng tác giả như là nhìn vào một thế giới xa xôi không biết bao giờ mình mới có dịp biết hết những cuốn sách ấy. Nhìn mãi đâm ra thuộc những tên như Thừa Tự, Thoát Ly, Trống Mái, Tiêu Sơn Tráng Sĩ, Đoạn Tuyệt, Đôi Bạn, Bướm Trắng, Con Trâu, Bên Đường Thiên Lôi, A-Na-Kha-Lệ-Ninh... mỗi tên sách là một bí mật đối với tôi, có khi có thể tưởng tượng ra nội dung, có khi không hiểu ngay cả tên gọi --Cái Ve chẳng hạn, đó là cái gì vậy? Mới ngoài mười tuổi, học hành theo lối được chăng hay chớ của của thời kháng chiến thì kiến thức sách vở cũng trôi nổi lắm, nhưng những gì đọc được, dù với trí óc còn non nớt, cũng gây ấn tượng mạnh. Nhưng suốt thời gian tản cư tôi chẳng được đọc một quyển sách nào của Thạch Lam, ngoài cuốn Hạt Ngọc, thuộc loại Sách Hồng dành cho trẻ em.

ĐỌC "NHỚ TIẾNG À ƠI"


Trong mười mấy năm phụ trách trông coi bài vở cho tạp chí Thế Kỷ 21, tôi được dịp quen biết với nhiều nhà cầm bút. Nhiều người đã nổi tiếng trên văn đàn, cũng có những người mới bước vào công việc viết lách. Nhưng đối với ai, Tòa soạn cũng có nhiệm vụ đọc kỹ bài vở của họ để quyết định đăng hay không. Và kinh nghiệm thú vị nhất của người làm tòa soạn là khi khám phá một bài viết hay của một tác giả hoàn toàn xa lạ.

Wednesday, February 22, 2017

Monday, January 23, 2017

Wednesday, December 28, 2016

Phát biểu về tập thơ Tát Cạn Đời Sông của Phan Xuân Sinh




  (Trong buổi ra mắt tập thơ vào mùa xuân 2013 tại Quận Cam, California)


  Thưa các bạn,

Hôm nay các bạn cùng tôi chào đón một nhà thơ đồng hương đến từ Texas, anh Phan Xuân Sinh và tập thơ Tát Cạn Đời Sông mới ra đời của anh. Khi nói mấy chữ "nhà thơ đồng hương" tôi biết mình đã dùng chữ không chính xác, vì không phải tất cả các bạn có mặt hôm nay đều là đồng hương Quảng Nam với anh Phan Xuân Sinh, nhưng tôi xin phép dùng mấy tiếng đó, thứ nhất là chắc số người đồng hương với anh Phan Xuân Sinh trong phòng này cũng khá đông, trong đó có tôi, thứ hai là tôi muốn chia sẻ với tất cả các bạn một vài cảm nghĩ khi đọc thơ anh Phan Xuân Sinh, mà tôi tạm đặt tên là: thơ của người đồng hương.

Monday, November 21, 2016

Sunday, November 13, 2016

Gối đầu đá thu


Bao giờ nhà rợp mây trời  
đun trà nước suối, gối đầu đá thu

(phỏng dịch thơ Nguyễn Trãi =
hà thời kết ốc vân phong hạ
cấp giản phanh trà, chẩm thạch miên) 
 
Hai chữ đá thu mà Dung dùng trong câu thơ chắc chắn gây một ngỡ ngàng cho người đọc, vì nó lạ, vì từ trước tới nay không ai dùng như thế. Có lẽ Dung là người đầu tiên dùng thu ghép với đá, một thứ xưa nay vẫn trơ trơ với sự thay đổi của thời tiết. Làm sao lòng người có thể đồng cảm được với hình ảnh mới mẻ này? Thiên nhiên biến chuyển thì dễ gây xúc động lòng người, ví dụ lá cây, khi thu tới đổi màu, thì con người tạo ra ngay chữ lá thu để diễn tả một hiện tượng của thiên nhiên thay đổi, trong khi đó đá thì thiếu gì quanh ta nhưng không ai nói tới, vì nó không thay đổi gì cả, nó trơ trơ.

Thay vì lá thu như bao người đã viết, Dung đã dùng chữ ĐÁ THU. Thì sao?

Đá thu thì có gì khác với đá xuân, đá hè? Không khác gì cả, về mặt vật lý. Nhưng đối với một người sáng tác, không nhất thiết phải tuân theo định luật ấy, mà chỉ tuân theo cái cảm trong lòng mình. Trong văn cảnh nhân vật pha trà với nước suối, thì có gì ngăn được người sáng tác nghĩ rằng cảnh đó xảy ra trong mùa thu, với khí hậu không nóng lắm và không lạnh lắm, thì cứ cho nhân vật ngả lưng lên một TẢNG ĐÁ THU. Đó là sáng tác, là sáng tạo, vốn là cái vô bờ bến. Vấn đề là người đọc có chấp nhận được cách nói mới mẻ đó không. Nhưng người đọc, thực ra chỉ là người thụ hưởng sự sáng tạo của thi nhân, phải chấp nhận hình ảnh tấm phản đá trong mùa thu ấy. Và dần dần ĐÁ THU sẽ được chấp nhận như một từ ngữ sáng tạo để diễn tả một tình huống nào đấy của cuộc sống muôn mặt của con người.
m

Sunday, November 6, 2016

Trần Doãn Nho @ Trò chuyện với nhà văn Phạm Phú Minh

Lời Giới thiệu của Trần Doãn Nho (TDN): Tôi quen nhà văn Phạm Phú Minh (PPM – bút hiệu Phạm Xuân Đài) qua Thế Kỷ 21, tờ tạp chí tôi cộng tác từ lúc anh làm chủ bút cho đến số cuối cùng. Có một khoảng thời gian, anh mời tôi vào Ban Biên Tập cùng với một số nhà văn nhà thơ khác. Ngoài việc đóng góp bài vở khá thường xuyên, trong một vài số đặc biệt, tôi cộng tác với anh Minh để thực hiện. Như số về Hồ Hữu Tường, tôi là người trực tiếp đến nhà người con gái của Hồ Hữu Tường, chị Hồ Huệ Tâm, đang dạy ở đại học Harvard, để thu thập một số tài liệu và thực hiện cuộc phỏng vấn. Hay số đặc biệt về Trần Văn Tuyên. Vị cựu phó thủ tướng này có cô con gái ở cùng thành phố với tôi, tôi liên lạc với cô để tìm thêm tài liệu. Hà Nội trong mắt tôi, tác phẩm đầu tay của anh do nhà văn Nguyễn Mộng Giác biếu tôi, là một trong những tác phẩm đầu tiên mà tôi được đọc khi ra hải ngoại. Cái tựa đề khá nhạy cảm này cộng với bút danh Phạm Xuân Ðài mới mẻ khiến cho tập bút ký này trở thành “vấn đề” lúc mới phát hành, gây xôn xao trong cộng đồng người Việt tại một vài nơi, kể cả ở Boston, nơi tôi định cư, khi tác giả đến đây trong một lần ra mắt sách. Nhưng rồi mọi chuyện ổn thỏa khi người ta biết về tác giả và đọc nội dung tác phẩm.

Thursday, October 27, 2016

Trao đổi về cuốn "Kỷ Yếu Triển Lãm và Hội Thảo về báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn"


Thư Nguyễn Bá Dũng từ Hà Nội 17.10.2014:

Chiều qua em đi lấy sách rồi. Thật tuyệt, em không biết nói gì hơn trước một cuốn sách làm trang trọng như vậy.

Cả một chương trình, cho đến sách kỷ yếu, đều hoàn mỹ. Em coi đây là 1 dấu ấn quan trọng. Cám ơn anh.

em Dũng

Sunday, October 23, 2016

Thursday, October 20, 2016

Chữ nghĩa

Trong tiếng Việt có tới khoảng 60 phần trăm tiếng có gốc chữ Hán, nhưng mức độ Việt hóa của những chữ đó nặng nhẹ khác nhau. Nhiều tiếng hầu như đã Việt hóa hẳn, truy ra thì mới thấy nó có cái gốc chữ Hán đã phai mờ nhiều rồi, thông thường được coi như là một chữ thuần Việt. Trong khi đó nhiều chữ khác vừa đọc lên là biết ngay là có gốc Hán.

Một lần đến Hàng Châu....

Xuân thủy bích ư thiên, Họa thuyền thính vũ miên
Nước xuân biếc hơn trời, trong thuyền nghe mưa ng

Vi Trang

Đúng là anh có nhiều kinh nghiệm du lịch Trung Quốc, và phải nhận là tài nguyên du lịch của xứ này là mênh mông vô tận. Xứ của họ rộng lớn quá, nền văn minh cổ của họ rực rỡ quá, nên những cảnh, những tình cảm mà du khách, nhất là người Việt Nam vốn chịu ảnh hưởng lớn của Trung Quốc từ nghìn xưa, nhìn thấy và cảm nhận thì vô cùng phong phú. Thành phố này chỉ là một nét nhỏ trong không biết bao nhiêu điều siêu phàm tại xứ này. 


Nhưng tả lại những điều đã thấy và cảm thì anh thấy em lại có nhiều khả năng hơn anh. Lý do: em biết nhiều thơ chữ Hán của các bậc danh sĩ, và có tài lựa chọn, trích dẫn những câu đắt nhất để mô tả cảnh và tình. Thật ra, nhiều khi chỉ cần dăm ba câu là đủ diễn đạt cái thần của cảnh trí, hơn hẳn một bài dài mà ngôn từ lung tung, không đạt được đến cái "tinh thể của ngôn ngữ" như Bùi Giáng thường nói.