Saturday, October 14, 2017

Đọc ‘Tuyển Tập Chân Dung VHNT & Văn Hóa’ của NGÔ THẾ VINH




  Thời gian bắt đầu thế kỷ 21, tác giả Long Ân trong một bài nhận định về cuốn sách mới nhất của Ngô Thế Vinh hồi đó, đã viết:
“Ở cuốn sách mới nhất của anh Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông dậy sóng, người đọc đã thấy những hóa thân Ngô Thế Vinh biến thái liên tục theo từng trang mở rộng. Ngô Thế Vinh con người xanh của môi sinh, Ngô Thế Vinh con người chính trị nhân bản, Ngô Thế Vinh con người phiêu lưu trong khu rừng già địa lý chính trị, Ngô Thế Vinh con người tiên tri lịch sử...”

Đây là một nhận định rất tinh tế và chính xác về con người viết lách của bác sĩ Ngô Thế Vinh, cho đến thời điểm 2001. Ngày nay, 16 năm sau, chúng ta có thể thêm vào các dòng chữ trên: Ngô Thế Vinh con người của văn học nghệ thuật và tình cảm bạn hữu. Ít ra, đây sẽ là những đặc tính mà người đọc sẽ tìm thấy khi đọc cuốn sách mới nhất của anh: Tuyển Tập Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật & Văn Hóa.

Cho đến năm 2001, nhà văn Long Ân đã nhìn thấy một Ngô Thế Vinh trên “tầm vóc vĩ mô” của những vấn đề lớn như địa lý chính trị, số phận của một dòng sông dài chảy qua nhiều nước, những vận động đa quốc gia để giữ gìn sinh thái cho cả một vùng Đông Nam Á v.v... với một hùng tâm hùng khí không bao giờ lùi bước và một tài năng sắc bén cùng một tấm lòng thiết tha không lay chuyển. Nhưng 16 năm sau, vào cuối năm 2017, với tác phẩm mới nhất của mình, có thể nói Ngô Thế Vinh đã lần đầu tiên đưa ngòi bút vào lãnh vực “vi mô” : chân dung văn học nghệ thuật và văn hóa của từng con người cụ thể với tất cả các nét tế vi của lãnh vực này.

Tác giả đã trình bày “chân dung” của 18 người, trong đó 16 vị thuộc lãnh vực Văn học Nghệ thuật: 1 Mặc Đỗ, 2 Như Phong, 3 Võ Phiến, 4 Linh Bảo, 5 Mai Thảo, 6 Dương Nghiễm Mậu, 7 Nhật Tiến, 8 Nguyễn Đình Toàn, 9 Thanh Tâm Tuyền, 10 Nguyễn-Xuân Hoàng, 11 Hoàng Ngọc Biên, 12 Đinh Cường, 13 Nghiêu Đề, 14 Nguyên Khai, 15 Cao Xuân Huy, 16 Phùng Nguyễn và hai vị thuộc dạng “Chân dung Văn hóa” là Phạm Biểu Tâm và Phạm Hoàng Hộ.
Dùng hai chữ Chân Dung để đặt tên cho loạt bài viết này của mình, Ngô Thế Vinh đã sáng tạo ra một cách viết mới cho một số nhân vật mà anh lựa chọn. Quyển sách này không thuộc loại phê bình văn học như Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan, hoặc Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh Hoài Chân, không, anh không đặt mục tiêu và trách nhiệm của mình rộng đến thế. Trước hết anh không phải là nhà phê bình văn học hay nghệ thuật, anh chỉ tạo nên những “chân dung”, theo cách của mình. Một trong những điều kiện đầu tiên để tác giả làm việc này là người được giới thiệu phải là người quen thân của anh, nói đơn giản là bạn anh. Và chúng ta cũng có thể hiểu bạn bè ở đây phần lớn bắt nguồn từ các sinh hoạt văn học nghệ thuật và văn hóa mà có. Tình bạn ấy không chỉ thuần túy là tình cảm thân thiết giữa hai cá nhân như thường tình, mà trong đó còn lẫn lộn các tác phẩm văn chương hay hội họa, phong cách sáng tác, ý hướng sáng tạo hay con đường hoạt động của mỗi người. Tình bạn ấy có lẫn sự ăn ý của đôi bên về một phạm vi cao hơn, xa hơn chỉ là một giao tiếp xã hội.
Với tiêu chuẩn đầu tiên như thế con số các nhân vật được đưa ra giới thiệu sẽ rất hạn chế, không thể đại diện cho một cộng đồng hay một thời đại, tuy thế, các chân dung được đưa ra cũng đủ lớn để phủ bóng một vùng khá rộng trong cái lãnh thổ văn hóa nghệ thuật mà tác giả đã lăn lộn trong ấy từ thời còn rất trẻ cho đến tuổi xưa nay hiếm, từ mảnh đất Việt ngàn xưa cho đến thế giới rộng lớn ngày nay.
Định xong đối tượng, phương pháp của tác giả sẽ như thế nào để họa cho được một chân dung? Thật ra thì chẳng có một phương pháp cố định nào, lối giới thiệu nhân vật của Ngô Thế Vinh có lẽ tùy thuộc vào cái tâm cảnh của mình đối với một người bạn nào đó. Nhưng có một nguyên tắc vững chắc mà tác giả đã luôn luôn giữ trong cách viết từ trước đến nay, là nghiên cứu rất kỹ những tác phẩm của người mình định giới thiệu, tìm kiếm thật đầy đủ những ý kiến khen chê của phía người thưởng ngoạn, và một điều dĩ nhiên phải có, là vận dụng rất nhiều những kỷ niệm, ký ức có ý nghĩa của riêng mình đối với người ấy. Tôi cho những giao tiếp riêng tư, mà tác giả dùng chữ “giao tình”, có vai trò quan trọng trong việc cấu tạo nên quyển sách này, đó là chất keo sơn rất bền chặt kết dính mọi nghiên cứu khách quan khác mà tác giả thực hiện một cách luôn luôn nghiêm túc.
Một mặt khác về tài liệu, phần hình ảnh đóng một vai trò rất quan trọng, mà tôi nghĩ nếu không có “giao tình” với người mình để tâm nghiên cứu thì cũng khó mà được đầy đủ như thế. Hình ảnh là một điểm son của cuốn sách này, đối với nhân vật nào Ngô Thế Vinh cũng đưa ra rất nhiều hình ảnh mà càng lâu về sau càng trở nên quý giá: hình ảnh các bìa sách, các họa phẩm, các thư từ trao đổi hầu hết là thủ bút, những buổi gặp gỡ giữa các bạn văn nghệ, hoặc các hình ảnh có ý nghĩa lịch sử sưu tập được. Qua các hình ảnh này, người đọc được xem những buổi họp mặt của giới văn nghệ, trong đó có những nhân vật lâu nay nghe tiếng mà chưa biết hình dung, và cũng qua đó biết được sự giao du và tình quý trọng của giới văn học nghệ thuật đối với nhau như thế nào. Đó là chưa kể phần hình ảnh có tính cách tài liệu, nhất là những gì còn tìm được sau trận hỏa thiêu sách vở mịt mù khói lửa tại miền Nam từ sau 1975. Khác xa với các sách biên khảo phê bình từ thời trước 1945, thậm chí trước 1975, quyển sách này chứa đầy hình ảnh phần lớn mang màu sắc nguyên thủy, đó là một ưu điểm đặc biệt của thời đại ngày nay nhưng không phải tác giả biên khảo nào cũng đạt được đến số lượng, phẩm chất của tài liệu hình ảnh mà Ngô Thế Vinh thực hiện được trong quyển sách này. Kho hình ảnh này dĩ nhiên mang giá trị rất lớn cho công việc nghiên cứu trong tương lai.

*

Dĩ nhiên khi trình bày “chân dung” của một người bạn, không ít thì nhiều đều có ẩn hiện chân dung của chính tác giả. Đó là điều không tránh được, và cũng không cần phải tránh. Nếu chúng ta cố tìm một nơi nào hình bóng tác giả in đậm nhất, linh động nhất và có thời gian lâu dài nhất thì đó là bài viết về Người Bạn Tấm Cám Nghiêu Đề. Viết về Nghiêu Đề, những dòng chữ của Ngô Thế Vinh giống như là hồi ký về một quãng đời của chính mình.
Bước vào năm đầu y khoa, thay vì như các bạn đồng khoá tập trung vào học tập, tôi đã không được gương mẫu như vậy, sớm say mê chuyện viết lách làm báo và cả rong chơi với giới nghệ sĩ nhóm bạn Nghiêu Đề. Rất khác nhau nhưng không hiểu sao tôi và Nghiêu Đề lại có thể thân nhau đến như vậy. Nghiêu Đề có nếp sống lang bạt, có nhiều bạn tấm cám từ thời còn rất trẻ, xóm Bùi Viện gần ngã tư quốc tế là khu giang hồ nơi chúng tôi thường lui tới lúc đó, họ tiềm ẩn tài năng nhưng còn như những “viên ngọc ẩn thạch”...
Ngô Thế Vinh viết về Nghiêu Đề với một văn phong khác lạ, dường như đang chạm vào một vùng êm ái và đáng yêu của đời mình, ở giai đoạn vừa xông vào đời với những mộng mơ, bên cạnh người bạn có cá tính khác mình nhưng như một bổ túc, bù đắp cho chính mình. Nói về tiểu thuyết Vòng Đai Xanh viết vào thời kỳ khai phá sung mãn ấy, Ngô Thế Vinh đã hé lộ cho chúng ta thấy vai trò của người bạn Nghiêu Đề đã được khẳng định rất sớm trong cuộc đời của tác giả, đến độ như “mình với ta tuy hai mà một”:
Triết nhân vật chính trong tiểu thuyết Vòng Đai Xanh, một hình tượng văn học, nguyên gốc hoạ sĩ sau trở thành phóng viên chiến trường có bóng dáng Nghiêu Đề trộn lẫn với cái tôi của tác giả.
Nghiêu Đề, một người bạn thân thiết xuất hiện khá sớm trong đời Ngô Thế Vinh tại cái xóm báo chí Phạm Ngũ Lão Sài Gòn năm xưa, cho đến những ngày cuối cùng của “người bạn tấm cám” này tại vùng Nam California trên đất Mỹ, tình bạn của họ không suy suyển trải qua quá nhiều biến cố đổi thay của đất nước và của thời đại. Bài viết về Nghiêu Đề đúng là một bức chân dung thật sự về cá tính, tài năng và cuộc đời của một họa sĩ đầy phiêu lãng, chính là một tài liệu quý hiếm về nhân vật này, mà tôi nghĩ, ngoài Ngô Thế Vinh sẽ không một người nào có thể thực hiện được đầy đủ và sâu sắc như thế. Không phải là bạn thiết từ thời trẻ tuổi, thấu hiểu nhau qua từng giai đoạn của đời sống thì tác giả không thể đặt những nhát cọ cuối cùng cho bức chân dung như một kết luận về tính cách của Nghiêu Đề như thế này:
Không tự ràng buộc vào những quy ước thông tục của đời sống, dễ nhìn Nghiêu Đề như một người phóng giật hay buông thả bất cần đời, anh hoà nhập với mọi người nhưng lại hàm chứa vẻ cao ngạo với chính anh chứ không với ai khác. Là người bạn đôn hậu, không hề cay độc nhưng lại rất cynical, Nghiêu Đề vẫn hồn nhiên gọi chó là đồng loại. Nói như Oscar Wilde: “Anh là mẫu người biết giá của mọi thứ, nhưng không có gì giá trị đối với anh / A man who knows the price of everything and the value of nothing”.

*

Một tình bạn khác cũng rất đặc biệt, vì với một người khác phái và hơn một thập niên cách biệt về tuổi tác, mà chúng ta thường gọi là bạn vong niên : nhà văn Linh Bảo.
Tôi thấy, một cách khách quan, viết giới thiệu Linh Bảo là một việc cần thiết, vì sự xuất hiện của bà trên văn đàn Việt Nam tương đối ngắn ngủi và tác phẩm không nhiều, nhưng đó là cái ngắn ngủi của một ngôi sao băng xẹt ngang bầu trời. Tác phẩm Tàu Ngựa Cũ của bà được trao Giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1961.
Ngô Thế Vinh đã sưu tầm được những lời đánh giá “có tầm lịch sử” về tài văn chương của Linh Bảo mà anh gọi là “Rất tình cờ từ ba địa phương, cả ba tác giả Bắc Nam Trung đều có chung một nhận định: Linh Bảo là một cây bút có văn tài. Linh Bảo viết không nhiều, nhưng tác phẩm nào cũng đặc sắc”.
Ba tác giả Bắc Nam Trung ấy là Nhất Linh, Bình Nguyên Lộc và Võ Phiến với lời lẽ của họ trích từ bài viết của Ngô Thế Vinh :
Chính Nhất Linh là người khuyến khích và hướng dẫn Linh Bảo vào con đường viết văn. Trích đoạn bức thư của Nhất Linh viết từ Sài Gòn ngày 29 tháng 5 năm 1953 gửi Linh Bảo khi ấy vẫn còn ở Hương Cảng với tên Lại Cẩm Hoa :

Kính gửi chị Hoa,

Tôi đã nhận được cuốn Gió Bấc và đã đọc hết. Khá lắm và hay hơn lần viết đầu. Xin gửi lời khen chị. Các nhân vật quốc nội và hải ngoại cũng rõ ràng linh hoạt hơn, đoạn kết cũng rất khéo và vừa vặn.
(...)
Chị đã có cốt cách nhà văn, cứ thế mà tiến, yên tâm mà tiến, còn nhiều rực rỡ về sau đợi chị. (...)
Nhất Linh

Còn Bình Nguyên Lộc nhà văn đất Nam Kỳ thì bộc lộ các nhận xét rất độc đáo của mình về văn chương Linh Bảo qua bức thư sau:

Sài Gòn 21/9/1958
Chị Linh Bảo,
Hôm nọ tôi có đến thăm chị nhưng chị đi vắng...
Một điều sau đây tôi được biết, nói ra sợ chị không tin nhưng không thể không nói được: là rất nhiều bạn văn, bên phe không cọng, nói với tôi rằng các tiểu thuyết đăng ở Văn Hoá Ngày Nay chỉ có tiểu thuyết của Linh Bảo là hay. Họ không nói là hay hơn hết mà chỉ nói là hay thôi. Thế nghĩa là còn hơn là hay hơn hết nữa kia.
Riêng tôi, tôi thấy chị hay hơn Gió Bấc nhiều lắm [Bình Nguyên Lộc muốn nói tới tiểu thuyết Những Đêm Mưa, đang đăng định kỳ trên Văn Hoá Ngày Nay, ghi chú của người viết] và giọng văn của chị đã rõ nét ra, một giọng văn mà ba mươi năm nữa chưa chắc đã có người làm theo được...
Tôi ngạc nhiên lắm. Bề ngoài chị rất là đờn bà, nhưng sao văn chị như văn đờn ông thế. Đọc xong bốn kỳ Những Đêm Mưa, tôi ngán sợ chị ghê lắm, sợ cái tài quan sát nội tâm và ngoại cuộc của chị rất là bất ngờ, mà nhất là sợ cái cười bình thản của chị vô cùng. Sợ đây không phải là phục.
Đành là phục rồi, khỏi phải nói, mà sợ bị chị quan sát và cười, mặc dầu chỉ cười thầm thôi...
Bình Nguyên Lộc
Và sau cùng là nhận xét của Võ Phiến, cây bút miền Trung, trên tạp chí Bách Khoa [số 161, năm 1962]:
"Trong số những người đàn bà viết văn ở ta hiện nay, có lẽ Linh Bảo có tài nhất: có tài quan sát, lại có tài diễn tả một cách thông minh những điều mình quan sát. Quan sát và phân tích tâm lý, Linh Bảo đã trình bầy được mỗi nhân vật với một hình dạng, một cá tính rõ ràng, một lối sinh sống và ăn nói riêng biệt... Linh Bảo thường hay tìm ra cơ hội để làm người đọc mỉm cười, dù là trong những trường hợp buồn thảm: nhà ngập lụt, vợ chồng giận nhau. Giữ được nét mặt tươi tắn cả trong khi buồn, đó là một lối làm đẹp rất khéo của đàn bà, nhất là đàn bà 'lịch sự': vì vậy mà cái cười do Linh Bảo gợi lên lắm lúc có chua chát, người đọc vẫn dễ có cảm tình với giọng văn của tác giả."
Như vậy, Linh Bảo dù viết ít và trong một thời gian không dài, nhưng tài năng của mình đã được xác nhận bởi ba vị mà vai vế và uy tín của họ trên nền văn học Việt Nam cận và hiện đại đã là những bảo chứng rất chắc chắn. Và điều quan trọng là đã có người sưu tầm và đề cập đến trong một bài viết rất đầy đủ về phương diện tư liệu lẫn hiểu biết cá nhân.
Riêng cá nhân người viết bài này cũng được quen biết với nhà văn Linh Bảo qua sự giới thiệu của anh Ngô Thế Vinh. Năm 2002 tôi làm chủ bút tạp chí Thế Kỷ 21 ở miền Nam California, quyết định tháng Bảy năm ấy sẽ làm một số đặc biệt về Nhất Linh, và kêu gọi văn hữu khắp nơi đóng góp bài vở về chủ đề này. Một hôm anh Ngô Thế Vinh gọi cho tôi, cho số điện thoại của chị Linh Bảo và gợi ý tôi nên liên lạc xin chị viết cho một bài về Nhất Linh. Tôi làm theo và quả nhiên được chị Linh Bảo nhận lời. Bài của chị được đăng trên báo Thế Kỷ 21 số 159 đặc biệt về Nhất Linh và sau đó hai năm in trong cuốn sách Nhất Linh Người Nghệ Sĩ Người Chiến Sĩ do Thế Kỷ xuất bản.
Sau đây là một số trích đoạn của bài viết có liên quan đến chỗ khởi đầu văn nghiệp của nhà văn Linh Bảo, cũng là chút kỷ niệm giữa chị Linh Bảo, anh Ngô Thế Vinh và người viết bài này, xin phép gửi ké vào đây :

BÀI HỌC “NHIỆT THÀNH”
LINH BẢO

Kính gửi anh Minh,
Trong lúc tôi đang “vui thú điền viên” nghĩa là tưới cây cỏ ở vườn sau thì nhận được điện thoại của anh. Mở đầu anh nói ngay là do anh Ngô Thế Vinh giới thiệu. Anh Vinh là người bạn từ 40 năm trước. Với thân tình ấy, nghe anh bảo viết một bài cho số Thế Kỷ 21 đặc san về Nhất Linh, làm tôi không biết “ca bài con cá” ra sao.
Thú thực tôi sống ở nước ngoài nhiều hơn ở trong nước nên kỷ niệm với tiền bối Nhất Linh rất ít. Nếu nói thế để từ chối thì anh sẽ trách tôi tránh né và anh Vinh cũng sẽ không vui.
Sau khi nghĩ kỹ, tôi viết thư này cho anh cố tìm kiếm soi mói ký ức xem có gì liên hệ đến anh Nhất Linh kể hết cho anh biết, rồi tùy anh muốn bắt muốn tha sao cũng được.
(...)
Qua một bà bạn Việt Nam, tôi được quen anh Trương Bảo Sơn và chị Nguyễn Thị Vinh. Anh chị rất thương mến tôi coi tôi như em gái, săn sóc đủ mọi thứ. Nhờ thân tình ấy tôi đưa cho chị Vinh xem tập nhật ký của tôi viết, kể lại cuộc sống của sinh viên Việt Nam tại Trung Sơn Đại Học ở Quảng Châu.
(...)
Tập nhật ký nhỏ ấy tôi gọi là Gió Bắc, vì tôi bị suyễn nặng từ bé, và mỗi khi gió Bắc thổi thì cơn hen suyễn lại nổi lên thảm khốc.
Chị Vinh đọc xong Gió Bắc cho là thú vị nên cho anh Nhất Linh đọc. Nhất Linh bảo tôi viết lại thành truyện ở ngôi thứ ba đừng giữ lối viết Nhật ký. Vì thời ấy độc giả chưa quen nghe “cái tôi” bất cứ tác giả nào. Anh Nhất Linh cũng đề nghị đổi tên Gió Bấc hay hơn chữ Gió Bắc tôi đã dùng.
Tôi làm theo lời anh và Gió Bấc, cuốn truyện đầu tay của Linh Bảo ra đời.
(...)
Việc Gió Bấc đầu tay được Nhất Linh xuất bản là một bất ngờ cho tôi. Chủ tâm tôi chỉ ghi lại như một nhật ký chứ không nghĩ xa hơn. Nếu không có một Nguyễn Thị Vinh hào phóng, khuyến khích, nâng đỡ giới thiệu bước đầu thì chắc không có Linh Bảo.
(...)
Tôi còn nhớ lần đầu tiên được ngồi ăn phở với anh chị Sơn Vinh và anh Nhất Linh, tôi có một cảm khái đặc biệt. Ngày xửa ngày xưa, lúc còn bé con ở nhà đọc Phong Hóa, Ngày Nay, đọc các sách của anh Nhất Linh, xem anh như một bậc thầy rất xa vời... Thế mà không ngờ trong đời có lúc được cùng ngồi ăn chung một bàn... Nhìn tay anh cầm đũa run run, tôi ngờ rằng sức khỏe của anh đã bắt đầu suy kém.
Tôi có thể quên và được quyền quên tất cả mọi kỷ niệm, ký ức... tất cả mọi vui buồn trong đời. Nhưng không bao giờ quên được lời khuyên rất quan trọng của anh.
- Phải nhiệt thành trong tất cả mọi trường hợp. Bất cứ làm gì cho mình hay cho người, bao giờ cũng đầy nhiệt thành. Làm việc với nhiệt thành không bao giờ nản, đối thoại với nhiệt thành không bao giờ chán, sống với nhiệt thành thì thời gian không bao giờ trôi qua một cách nặng nề.
Lúc ấy tôi đã hỏi lại anh:
- Nhưng nếu lỡ có sự việc gì mà mình không cảm thấy “nhiệt thành” được thì sao?
Anh trả lời không ngần ngại:
- Thì de ra, cũng một cách nhiệt thành chứ sao!
À ra thế.
Anh Minh, tôi không biết gì quan trọng về anh Nhất Linh, ngoài bài học “Nhiệt thành” anh đã trao truyền lại, và tôi đã cố gắng giữ gìn đừng đánh mất.
Tôi kèm theo phóng ảnh ba bức thư của anh Nhất Linh. Tất cả thư từ anh đều viết tay và hơi khó đọc. Trong một thư đề tên Hoa, đó là một trong những tên “vượt biên” trước khi thành ra Linh Bảo.
5-13-2002
 Tác giả Ngô Thế Vinh là một bác sĩ, tốt nghiệp trường Y Khoa Sài Gòn năm 1968. “Thế giới Y khoa” có thể nói là môi trường hoạt động chính của anh, từ khi bước vào trường thuốc cho đến ngày nay. Mặc dù Ngô Thế Vinh nổi tiếng về nhiều tác phẩm không dính gì tới thuốc men, về các hoạt động không trực tiếp về sức khỏe của con người, nhưng tôi có cảm tưởng tâm hồn anh không bao giờ rời xa những năm học tập ở Đại học Y Khoa Sài Gòn, với những vị thầy khả kính từ học vấn uyên thâm lẫn nhân cách, với biết bao bạn bè đồng tâm đồng chí với mình từ khi còn đi học cho đến quãng đời về sau cọ xát với nhiều gian lao khổ ải, kể cả bỏ mình nơi chiến trận hoặc vào trải tù cải tạo cộng sản sau khi miền Nam thất thủ.
Muốn hiểu nỗi niềm đó của Ngô Thế Vinh thì cần phải đọc bài anh viết về Giáo sư Phạm Biểu Tâm, một Giáo sư ở vị trí lãnh đạo lâu năm nền giáo dục Y khoa của miền Nam, đã trở thành kết tinh cao nhất của cả một thế giới vừa nội tâm vừa ngoại cảnh suốt đời nơi một người học trò.

Giáo sư Phạm Biểu Tâm thì ai cũng biết là người Huế, nhưng ít ai biết ông là người gốc miền Nam của Việt Nam. Đây là một phát giác thú vị, vì đi ngược với khuynh hướng di dân chung của dân tộc Việt Nam là từ Bắc vào Nam. Đi ngược lại thì phần nhiều là đi làm quan tại miền Trung hay miền Bắc, như trường hợp họ Nguyễn Tường từ Quảng Nam ra lập nghiệp tại Hải Dương, để con cháu ba đời sau đã tạo nên một sự nghiệp lớn lao là Tự Lực Văn Đoàn và báo Phong Hóa Ngày Nay; và trường hợp ông cố của Gs Phạm Biểu Tâm từ Gò Công ra Huế làm quan thời Gia Long và gia đình định cư luôn tại đó. Nhưng riêng Gs Phạm Biểu Tâm lại đi thêm một bước nữa là ra Hà Nội học Y Khoa từ năm 1932 và từ năm 1948 trúng tuyển kỳ thi Thạc Sĩ Y Khoa [Professeur Agrégé des Universités] tại Paris, tiếp tục giảng dạy tại Đại học Y Khoa Hà Nội kiêm Giám đốc bệnh viện Phủ Doãn, cho đến cuộc di cư 1954 mới về lại đất cũ gốc gác miền Nam của mình từ bốn đời trước. Những cuộc “di cư ngược” từ bản chất là những người có khả năng được triều đình bổ dụng làm việc hoặc ở kinh đô Huế, hoặc ra hẳn miền Bắc xa xôi. Đó là những tinh hoa đã lộ ra từ miền đất mới mẻ phía Nam, họ đi làm việc triều đình nhưng dần dà đã định cư tại nơi làm việc, và đã để lại những hoa trái thật quý giá cho cả Việt Nam trên mảnh đất cũ của tổ tiên bao đời trước mà họ có cơ hội quay lại.

Năm 1954, Giáo-Sư Phạm Biểu Tâm đã cùng gia đình di cư vào Nam, được đề cử làm Giám Đốc Bệnh Viện Bình Dân mới xây cất xong trên đường Phan Thanh Giản Sài Gòn, đồng thời cũng là Trưởng Khu Ngoại Khoa tại bệnh Viện này. (...) Đây cũng là một bệnh viện giảng huấn trực thuộc trường Đại Học Y Nha Dược duy nhất của Miền Nam Việt Nam thời bấy giờ.

Khi Đại Học Hỗn Hợp Pháp Việt được người Pháp trao trả lại cho Việt Nam [11.05.1955], Giáo-Sư Phạm Biểu Tâm được đề cử làm Khoa Trưởng, và là vị Khoa Trưởng đầu tiên của Trường Đại Học Y Dược Sài Gòn [Faculté Mixte de Médecine et Pharmacie].

Năm 1962, Hiệp Hội Y Khoa Hoa Kỳ / American Medical Association [AMA] đã viện trợ một ngân khoản lớn cho Việt Nam để xây cất một Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa với tiêu chuẩn hiện đại tại đường Hồng Bàng, Chợ Lớn, gồm một Trường Y Khoa [giai đoạn I] và một Bệnh Viện thực tập [giai đoạn II]. Lễ đặt viên đá đầu tiên do Tổng Thống Ngô Đình Diệm chủ tọa.

Sau biến cố 1963, Gs Phạm Biểu Tâm tiếp tục ở lại với Trường Y Khoa cho đến tháng 3 năm 1967, khi tướng Nguyễn Cao Kỳ, lúc đó là Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương đã đơn phương ký sắc lệnh giải nhiệm chức vụ Khoa Trưởng của Gs Phạm Biểu Tâm để thay thế bằng một Uỷ ban 5 người, đây cũng là lần đầu tiên ở miền Nam chính trị can thiệp vào nền tự trị đại học.

Với một ông Thầy gắn bó với chức vụ cao nhất của trường Y Khoa trong một thời gian lâu như thế, sinh viên rồi Bác sĩ Ngô Thế Vinh khi nhắc tới vị giáo sư đáng kính này là như sống lại cả một quãng đời từ khi bước vào trường Y cho tới ngày hôm nay. Ảnh hưởng của một người Thầy đúng nghĩa trong đời là như thế. Như một người cha tinh thần suốt đời của mình.

Sau 1975 thầy ở lại Sài Gòn tiếp tục giảng dạy Y khoa, trò đi vào tù cải tạo, may mắn là thầy trò cuối cùng lại được gặp nhau trên đất Mỹ.

Trong cảnh tha hương, cảm động và mừng tủi biết bao nhiêu khi được gặp lại Thầy, trên một lục địa mới ở một nơi xa quê nhà hơn nửa vòng trái đất. Được cầm bàn tay ấm áp và mềm mại của thầy Tâm trong bàn tay mình, rồi như từ trong tiềm thức của một hướng đạo sinh ngày nào, tôi siết nhẹ bàn tay trái của Thầy và chỉ có thể nói với Thầy một câu thật bâng khuâng “…đôi bàn tay này Thầy đã cứu sống biết nhiêu người.” “Có gì đâu Vinh.” Thầy xúc động và nghẹn ngào...

Như một câu chuyện có hậu. Nhưng tình tiết để dẫn đến cái “hậu” đó thì phong phú lắm, cần phải đọc hết bài này mới có thể thấy hết được. Tôi gọi đó là “Thế giới Y Khoa” của Ngô Thế Vinh.


*


Hoàng Ngọc Biên là một loại chân dung đặc biệt đáng được giới thiệu, vì nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu lẫn dịch thuật văn học, họa sĩ lẫn nhạc sĩ này vốn riêng được giới văn nghệ biết đến và quý mến, nhưng các đặc sắc của anh lại ít được quần chúng biết và chú ý.

Nhưng bài viết của Ngô Thế Vinh về Hoàng Ngọc Biên là một tài liệu có thể nói rất đầy đủ và phong phú về một con người đã đem lại cho nền văn học Việt Nam, ít nhất trong khung cảnh miền Nam trước 1975, nhiều mới lạ.

Trong khung cảnh cuộc chiến tranh Việt Nam ngày một leo thang với sự xâm nhập ngày càng lớn những binh đoàn từ miền Bắc, rồi đến cuộc đổ bộ của quân đội Mỹ, sự tuyên truyền rất hữu hiệu của phe cộng sản trên thế giới về hành động “xâm lược” của Mỹ tạo nên phong trào phản chiến rất mạnh trên đất Mỹ và khắp các nước Tây phương, một số trí thức Việt Nam không thể không chịu ảnh hưởng của cuộc diện ấy. Chính Võ Phiến nhớ lại hình ảnh của Hoàng Ngọc Biên thời ấy:

"Anh Biên thì khuynh tả, khoái Che Guevara; chính anh thì râu ria tóc tai dài phủ tới ót”. Và Hoàng Ngọc Biên đã ở trong nhóm sáng lập tờ báo Trình Bầy, thở một hơi thở chung của khuynh hướng tả phái tại nhiều nơi trên thế giới. Cái ảo tưởng muốn người Việt Nam tự mình tìm hướng đi riêng trong cuộc đụng độ giữa hai thế lực lớn trên thế giới là tự do và cộng sản chính cũng là một loại lý tưởng của thời ấy, và lý tưởng nào thì cũng bắt nguồn từ thiện ý và từ hoàn cảnh đang có. Đó là lý do tờ Trình Bầy trong đời sống ngắn ngủi hai năm của nó, đã thu hút khá nhiều cây bút đủ mọi khuynh hướng của miền Nam. Và đó cũng là sự vỡ mộng của những người khuynh tả của miền Nam sau khi phe cộng sản thắng trận: tả hay hữu gì của thế giới tự do đối với cộng sản cũng đều là phản động tuốt, cũng có thể là những màn trá hình của CIA cả. Ngay cả trong nhiều trường hợp người cộng sản rất hiểu bản chất lý tưởng của những người thiên tả này họ cũng không dung nạp vì họ biết đó là những con người tự do, rồi ra sẽ làm rối hàng ngũ rất chỉnh đốn của họ. Người cộng sản làm cách mạng đâu có phải để đi cưu mang những con người lãng mạn? Họ đã triệt để lợi dụng thành phần này cho cuộc đấu tranh của họ, nhưng khi “bao nhiêu lợi quyền đã qua tay mình” thì tại sao họ lại đi ôm rơm cho nặng bụng? Tốt hơn hơn hết là quẳng đi những cái vỏ sau khi đã vắt kiệt hết nước.

Ngô Thế Vinh đã viết rất chính xác :

“Tưởng cũng nên nhắc tới ở đây sự giác ngộ của cả những khuôn mặt trí thức lớn thiên tả Pháp như Jean Paul Sartre đối với cộng sản Việt Nam sau 1975, khi có xảy ra thảm trạng "boat people" trên Biển Đông; chính J.P. Sartre đã trở thành một "activist" vận động hiệu quả cho "Một con tàu cho Việt Nam/ Un bateau pour le Vietnam" đi cứu vớt các thuyền nhân. Kinh nghiệm với cộng sản Việt Nam cho đến nay vẫn là một bài học/ a lesson to learn cho thế giới.”

Vậy chính sự vỡ mộng với cộng sản cũng đóng góp một vốn sống, một kinh nghiệm quý cho đời.

Nhưng hãy quên đi những nét thời sự tả hữu của thời mịt mù khói lửa ấy để chỉ nhìn vào các hoạt động văn học và nghệ thuật của HoàngNgọc Biên, thì sẽ thấy đây mới là những công việc “vượt thời gian và không gian” của anh : nghiên cứu về tiểu thuyết mới, tự mình thể nghiệm sáng tác và dịch thuật các tác phẩm theo khuynh hướng mới, làm thơ, vẽ tranh, làm nhạc, trình bày sách báo... với tất cả tài hoa và sự say mê đi tìm cái mới của mình, như nhận xét của Ngô Thế Vinh:

Chính Hoàng Ngọc Biên, cả ở những năm về sau này, qua những sáng tác mới anh vẫn cứ bền bỉ và kiên trì đi trên con đường tiểu thuyết mới mà anh đã chọn. Truyện của Biên kén độc giả, Hoàng Ngọc Biên không phải là tác giả của đám đông nên tên tuổi của anh cũng ít được biết tới.

Điều đáng quý trọng của Hoàng Ngọc Biên chính là tinh thần không bao giờ thỏa mãn với cái đang có.

Với Hoàng Ngọc Biên, một tác phẩm được công bố không bao giờ nên được nhìn như một sự hoàn chỉnh, suốt đời Biên luôn luôn là một cuộc hành trình đi tìm cái mới.

Chính tinh thần đó mới là tiền đề của tất cả sự sáng tạo và tiến tới cho cuộc sống của một xã hội.


*


Trong cuốn sách này Ngô Thế Vinh xây dựng chân dung của từng nhân vật với hai tư thế: một, với sự khách quan của một người nghiên cứu; và hai, với lợi thế to lớn của chủ quan, vì nhân vật được nói đến luôn luôn là một người bạn của mình.

Hai yếu tố đó hòa quyện lẫn nhau tạo nên một lợi thế đặc biệt cho người viết, vì thật ra khách quan và chủ quan chỉ là hai cách nhìn của một chủ thể, người cầm bút. Anh ta phải nhờ đến tài liệu để tạo nên bức chân dung trung thực: quê quán ở đâu, sinh năm nào, học lực thế nào, khuynh hướng ra sao... Rồi khi đụng đến tác phẩm của người ấy thì sự khách quan bắt đầu lung lay: sự thưởng thức nào lại chẳng có phần chủ quan trong đó, thậm chí là phần lớn. Đây là một tiểu thuyết của bạn mình, mà mình thì quá rõ tính tình, khả năng, sở thích, cuộc sống của người ấy thì những dòng chữ viết ra kia dễ đi thẳng vào cảm nhận của mình rồi. Hoặc nét tài hoa của một bức tranh mà bạn mình chia sẻ với mình từng cảm xúc khi sáng tác thì dĩ nhiên mình có thể hãnh diện nói mình “hiểu” nó, “cảm” nó hơn là người bàng quan, cái đó là dĩ nhiên.

Ở Ngô Thế Vinh chúng ta thấy được sức mạnh nội công ngoại kích ấy. Đó là một người bạn rất chân tình và cũng là người có khả năng tìm hiểu nghiên cứu sâu rộng và khách quan. Với tình bạn, anh có thể tiếp cận và tìm hiểu những người bạn của mình dễ dàng hơn là các tác giả xa lạ. Với tình bạn anh có thể biết tính tình cùng những khía cạnh tình cảm ẩn kín, những nỗi niềm riêng tư của bạn mình, những cái có thể soi sáng tác phẩm hay giải thích một khuynh hướng của người mình nghiên cứu. Trong khi đó thì con người nghiên cứu khách quan của Ngô Thế Vinh vẫn tiếp tục công việc với những nguyên tắc nghiêm nhặt mà anh đã tự đặt ra cho mình từ lâu. Tìm hiểu một con người anh luôn luôn đặt con người ấy vào môi trường lịch sử mà người ấy đã sống, công việc mà người ấy đã làm, quan hệ xã hội đã và đang có.

Một con người nhiều tính chất “huyền thoại” như Như Phong Lê Văn Tiến, dưới ngòi bút của Ngô Thế Vinh đã hiện ra như một con người thực hơn, cụ thể hơn nhưng cùng lúc chất huyền thoại có thể dày đặc hơn. Ngô Thế Vinh đã trình bày một cách rõ ràng tiểu sử của Như Phong như là một con người cụ thể, khi Như Phong làm báo Tự Do thì “lý lịch” của tờ báo này cũng được trình bày chi li từng giai đoạn; cho đến vai trò “mưu sĩ” của Như Phong giữa thập niên 1960 với khả năng đứng trong hậu trường sắp xếp các vai trò sân khấu chính trị như sắp xếp các quân cờ trên một bàn cờ; rồi đến 1975 trước khi miền Nam mất vào tay cộng sản thì Như Phong với kiến thức sâu rộng về cộng sản luôn luôn thúc dục bạn bè di tản ra nước ngoài nhưng riêng mình thì chọn ở lại để nếm thử thách với nhà tù cộng sản hàng chục năm... Ngô Thế Vinh đã sưu tầm hầu như không sót một khía cạnh nào của cuộc đời Như Phong như những dấu tích cụ thể, nhưng đồng thời cũng phủ dày thêm mảng sương mù huyền thoại quanh con người mang một đời sống tinh thần siêu việt hiếm có này.


*


Trong phần giới thiệu Võ Phiến, một nhà văn quan trọng của miền Nam trước 1975, tôi chú ý nhất đến đoạn Ngô Thế Vinh thẩm định về bộ Văn Học Miền Nam của Võ Phiến.

Cho đến khi bộ Văn Học Miền Nam ra đời, chúng ta mới biết được rằng sự nghiệp văn học của miền Nam từ 1954 đến 1975 thật là quan trọng và đồ sộ, nhưng vẫn thiếu một cây bút phê bình đích thực, bao quát hết giá trị văn học trong hai thập niên của một quốc gia. Có lẽ vì nền văn học nghệ thuật ấy còn đang trẻ quá, sung sức quá, khiến cả xã hội chưa thấy có nhu cầu tổng kết cho nên chưa nảy ra một tài năng để đánh giá một cách bao quát. Giống như một người khi tương đối còn trẻ đầy sinh lực thì người ấy muốn dùng sinh lực của mình để sáng tạo chứ chưa thấy có nhu cầu... viết hồi ký, tức là nhìn lại để thẩm định chính mình. Nhưng rồi kẻ ấy bị bức tử trong tuổi thanh xuân đang phơi phới, không những thế bao nhiêu sự nghiệp tinh thần ngồn ngộn phong phú bị kẻ chiếm đoạt làm mồi cho lửa hết, đốt sạch, tận diệt trong một cơn hả hê thú vật.

Và sau đó thì sao nữa? Giới cầm bút, cầm cọ, ôm đàn..., nói chung người của văn học nghệ thuật và văn hóa, ai chạy thoát thì tán loạn khắp thế giới, kẻ còn lại thì bị gom hết vào tù. Rồi sao nữa? Hơi hoàn hồn lại thì có người nghĩ tới việc cần làm một cái gì đó để lưu giữ được chừng nào hay chừng đó cả một sự nghiệp văn hóa đồ sộ của hai mươi năm của một quốc gia non trẻ. Hai tay trắng đứng giữa một xứ sở xa lạ, bắt đầu từ đâu? với vốn liếng nào?

Nhưng bao giờ cũng thế, tất cả phải bắt đầu từ một tư tưởng, một ý nghĩ. Không có cái thao thức đầu tiên ấy thì rốt cuộc cũng chẳng gì xảy ra. Và cái sự nghiệp lớn lao kia của miền Nam sẽ dần dần tan biến, bị quên lãng trong cuộc sống luôn luôn lao về phía trước. Cái tia chớp trong đầu của một cá nhân đó, rồi ra sẽ là một cái gì đó rất vĩ đại, thành một công ơn lớn đối với di sản tinh thần của một dân tộc. “Bên thắng cuộc” ra tay đốt, cấm đoán, lên án, cầm tù..., mọi việc công khai rõ rệt dưới ánh mặt trời giữa một miền Nam sau ngày 30 tháng Tư 1975. Cả dân tộc biết. Cả thế giới biết. Nhưng từ một ánh chớp trong đầu một cá nhân đơn độc lại có khả năng gầy dựng lại, từ một viên gạch, rồi hai viên gạch, một hàng gạch, dần dần thành hình hàng lối. Ý tưởng được chia sẻ, các thiện chí hưởng ứng, góp tay vào tìm kiếm sách vở tài liệu. Dần dần thành một kiến trúc: bộ Văn Học Miền Nam đã thành hình sau 15 năm miệt mài.

Dù có một số lời chê bai từ nhiều động lực khác nhau, cái công trình đó vẫn là nền tảng cực kỳ cần thiết và quý giá làm căn bản để tìm lại một thiên đàng đã mất là nền văn học của nước Việt Nam Cộng Hòa trong hai mươi năm hiện diện cuả nó. Công trình đó chỉ do MỘT người chấp bút: Võ Phiến.

Trong bài viết về Võ Phiến trong sách này, Ngô Thế Vinh đã nhận xét một cách khách quan:

“Người ta đã nặng lời trách ông về những phần thiếu sót trong bộ sách ấy: như khi ông đã gạt một số tên tuổi văn học của thời kỳ 1954-75 ra khỏi bộ Văn Học Miền Nam Tổng Quan, rồi cả cách ông phê bình các nhà văn, nhà thơ được ông chọn đưa vào sách cũng bị ông sử dụng cái sở trường văn phong tuỳ bút / nay thành sở đoản để châm biếm mỉa mai cá nhân với nhiều định kiến thiên lệch.

Nhà văn Mặc Đỗ nhóm Quan Điểm thì thật sự bất bình, Mai Thảo nhóm Sáng Tạo trong lần trò chuyện cuối cùng với Thuỵ Khuê 07/ 1997 cũng không kềm được cảm xúc nói tới bọn vua Lê chúa Trịnh’, và nói thẳng: ‘Võ Phiến cũng có chỗ được chỗ không được. Đại khái như phê bình văn học, đối với tôi thì không được. Văn Học Miền Nam tổng quan đó thì không được. Thơ dở. Tạp văn hay’.

“Biết thiếu sót, biết trước có những hạn chế nhưng chính Võ Phiến, trái với bản chất thâm trầm và thận trọng cố hữu, Võ Phiến vẫn liều lĩnh - như một "risk taker", ẩn nhẫn làm một công việc tốn rất nhiều công sức và cả nhiều rủi ro như thế. Tưởng cũng nên ghi nhận ở đây, trong suốt hơn 15 năm từng bước hoàn thành công trình Văn Học Miền Nam với hơn ba ngàn trang sách ấy, Võ Phiến vẫn đang là một công chức sở Hưu bổng làm việc full time cho quận hạt Los Angeles, như vậy là ông đã phải làm việc ngoài giờ và những ngày cuối tuần. Võ Phiến về hưu tháng 7 năm 1994, ông tiếp tục viết thêm 5 năm nữa để hoàn tất toàn bộ Văn Học Miền Nam 1999. Nếu không có hùng tâm, với công sức của một cá nhân khó có thể làm được như vậy.”

Thiết tưởng Ngô Thế Vinh đã có cái nhìn công bình với công trình lớn lao này của Võ Phiến vậy.


*


Kết thúc bài điểm sách này ở đây, theo tôi, là quá sớm; nhưng nếu tiếp tục, lại quá trễ.

Hầu như chương nào của cuốn sách (mỗi chương đề cập đến một nhân vật) cũng đầy lôi cuốn: thông tin về tiểu sử, về cuộc sống của nhân vật ấy rất đầy đủ và linh động; thông tin về hoạt động văn học nghệ thuật hay văn hóa của người đó lại càng phong phú với rất nhiều tài liệu liên hệ được chọn lọc kỹ càng; rồi những kỷ niệm của tác giả với nhân vật trong quan hệ đôi khi rất chằng chịt giữa bạn bè lại càng tô đậm những nét quyến rũ của những loại tài liệu riêng tư chỉ mình tác giả có...

Nhưng trong công việc giới thiệu một cuốn sách, việc trích dẫn từng chương chỉ là đưa ra những thí dụ để minh chứng cho các nhận xét chung của mình. Dù có tiếc, có muốn tiếp tục giới thiệu các chương rất hay còn lại cũng không nên, vì độc giả mới là kẻ ưu tiên được quyền khám phá hết toàn diện tác phẩm, xin dành cho độc giả việc khám phá những mảnh đất chưa một người nào đặt chân tới. Vâng, chúng tôi xin giữ lại những vùng còn rộng mênh mông đầy quyến rũ ấy cho quý vị.

Chúng ta đang có trong tay một cuốn sách nghiên cứu nghiêm túc, nhưng đồng thời cũng là một cuốn truyện kể đầy nghệ thuật. Loại viết này tôi cho là rất mới, nó giới thiệu cho chúng ta những khuôn mặt, hay nói như tác giả, những chân dung --với hình ảnh rõ rệt và chi tiết toàn diện về nhân vật ấy. Dù không hẳn là một tác phẩm phê bình văn học nghệ thuật, nhưng tác phẩm này giúp chúng ta nhìn rõ “chân dung” của một số nhân vật, dĩ nhiên chủ yếu là chân dung tinh thần.

Chân dung ấy chỉ có được bởi một người rất thiết tha với văn học, nghệ thuật và văn hóa của xứ sở, dùng kiến thức giàu có và kinh nghiệm sống của chính mình để tạo nên. Trước đây năm sáu mươi năm Nguyễn Mạnh Côn đã viết cuốn “Đem tâm tình viết lịch sử” thì với cuốn sách này, tôi xin gọi tác giả Ngô Thế Vinh là người đem tâm tình viết nên một mảng văn học nghệ thuật và văn hóa của miền Nam trước năm 1975. Chỉ qua một số nhân vật, nhưng như đã nói ở một đoạn trên, những cái bóng của họ đã phủ một khoảng rộng trong không gian miền Nam thời ấy, góp phần khá lớn vào việc tạo dựng lại đặc tính của một nền sáng tạo tự do, mà cho đến bây giờ người dân Việt Nam khi nhớ lại hãy còn ao ước.

Xin trích lại một câu thâm trầm trong cuốn sách này để thay lời kết:

“Thời gian đã mất, nhưng rồi qua ký ức trí tuệ của Proust thời gian tìm thấy lại, và đã trở thành thời gian bất tử.”


28.8.2017

Sunday, September 24, 2017

Đọc sách: NHẬN ĐỊNH và những câu hỏi về MỸ THUẬT của TRỊNH CUNG


Trong cộng đồng người Việt tị nạn hải ngoại từ gần nửa thế kỷ nay vẫn có đủ loại sinh hoạt về văn hóa và văn học nghệ thuật của người Việt Nam. Chúng ta vẫn ăn Tết, vẫn mừng trăng mùa Thu với các em nhỏ, vẫn đi chùa lễ Vu Lan để nhớ ơn ông bà cha mẹ; chúng ta làm báo, xuất bản sách và ra mắt sách tiếng Việt; các họa sĩ vẫn vẽ tranh và triển lãm; các nhạc sĩ ca sĩ vẫn sáng tác và trình diễn, sản xuất đĩa ca nhạc ảnh hưởng không những đồng bào hải ngoại mà còn cả giới thưởng ngoạn trong nước...

Nhìn chung các sinh hoạt vừa kể, mảng hội họa tuy có mặt đều đặn nhưng không ồn ào năng động như các sinh hoạt khác. Xem tranh vốn là một công việc lặng lẽ, đứng trước một tác phẩm tạo hình, người xem cố nắm bắt vẻ đẹp cùng ngôn ngữ hội họa của họa sĩ tạo ra, khó chia sẻ cùng ai. Khai mạc một phòng hội họa khác với một buổi ra mắt sách. Với một tác phẩm văn chương hay khảo luận, ban tổ chức ra mắt sách có thể mời một số các bậc thức giả đứng ra giới thiệu tác phẩm, trình bày bằng lời nói những cái hay cái đẹp, cái cần thiết của nó. Với các tác phẩm hội họa, rất khó làm việc ấy, vì cái đẹp rất khó giảng giải, nó đến với một người qua sự cảm nhận nghệ thuật của người ấy, các lời lẽ của lý trí khó xen vào.

Cũng vì thế sách lý luận phê bình về văn chương học thuật thì nhiều, nhưng sách giảng giải về hội họa, và nói chung mỹ thuật, thì hiếm hoi. Cuốn sách Nhận định và những câu hỏi về Mỹ Thuật của Trịnh Cung mới xuất bản mùa hè 2017 thuộc vào loại hiếm hoi này.

Như nhan đề của nó, sách được chia làm hai phần: chương I là Nhận Định và chương II, Những câu hỏi về Mỹ Thuật.

Phần Nhận Định gồm những bài mang tính chất có thể là khảo luận, tùy bút, hồi ức, ký sự... nhưng nội dung đều nhằm trình bày những cái nhìn liên quan đến hội họa. Chúng tôi xin đề cập đến bài đầu tiên của phần này, có tựa đề khá dài “Sự phát triển của Văn Học và Nghệ Thuật khi thiếu tương hợp sẽ ra sao?”

Tác giả đã nêu ra một vấn đề khá thú vị, là sự tương quan giữa Văn Học và Nghệ Thuật (ở đây hiểu là nghệ thuật tạo hình), và chứng minh rằng văn và họa là hai môn khá mật thiết, cái này nâng đỡ cái kia để trở thành hay hơn, đẹp hơn. Quan sát sự phát triển của Tự Lực Văn Đoàn và các tờ báo của văn đoàn này là Phong Hóa và Ngày Nay trong thập niên 1930, tác giả đã tìm thấy một ví dụ rất thuyết phục cho nhận xét trên của mình :

“... Nhất Linh và nhóm TLVĐ không chỉ nhìn thấy khả năng làm đẹp của họa sĩ cho tạp chí Ngày Nay mà còn nhìn thấy mỹ thuật là một thế lực có thể làm thay đổi bộ mặt xã hội về văn hóa và văn minh nếu biết khai thác tiềm năng của nó. Tạp chí Ngày Nay trở thành bệ phóng tuyệt vời cho mỹ thuật Việt Nam khi tập hợp được gần như hầu hết các họa sĩ xuất sắc nhất thời ấy như Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Lê Phổ, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Cát Tường, Nguyễn Đỗ Cung... để cùng với các nhà văn, nhà thơ, kịch tác gia, nhạc sĩ... của TLVĐ làm cho cuộc cách mạng văn hóa bùng nổ và thành công vang dội.”

Nhiều người đã nhìn thấy giá trị mỹ thuật có tính cách mới mẻ và nổi bật trong cách làm báo của nhóm TLVĐ, nhưng hình như chưa có ai nêu lên sự tương tác lẫn nhau giữa văn chương và mỹ thuật đã tạo nên cảm hứng và nâng cao phẩm chất của mỗi bên như Trịnh Cung đã nhận thấy rất đúng trong trường hợp TLVĐ.

Cũng trong dòng cảm nhận ấy, tác giả Trịnh Cung đề cao vai trò của của tạp chí Sáng Tạo trong việc hướng dẫn việc tìm kiếm cái mới cho giới văn nghệ tại miền Nam sau 1954. Trịnh Cung và cả một thế hệ họa sĩ trẻ đã sống trong bầu không khí văn học nghệ thuật đầy sáng tạo ấy, và đã tạo lập nên sự nghiệp hội họa của mình.

Nhưng từ sau 1975 thì sự tương tác văn-họa ấy đã sụp đổ. Tác giả viết :

“Mọi tư duy văn học và mọi cảm hứng nghệ thuật đều nhất mực phải đi trên một đường ray do Đảng cầm quyền thiết lập chạy suốt từ Bắc đến Nam. Nền giáo dục xã hội chủ nghĩa kết liễu hoàn toàn nền giáo dục dân chủ, loại bỏ triệt để văn học và nghệ thuật tự do, đa nguyên.”




Một trang sách về Mai Trung Thứ

Tác giả cũng nêu ra tình trạng đáng lo ở phương Tây khi nền “tư bản thực dụng” đã lùa sinh hoạt hội họa vào trong một cái rọ, làm thui chột sức sáng tạo của người nghệ sĩ, dùng quảng cáo và khống chế mua chuộc giới phê bình để thao túng thị trường tranh.

“Cho đến khi những nhà trí thức Phương Tây từ triết gia cho tới nhà văn làm nổi bật sự vô giá của tác phẩm mỹ thuật bằng quyền lực của ngôn ngữ thuyết giảng, những doanh nhân mới đưa mỹ thuật vào tầm ngắm của họ. Vũ khí của họ là công nghệ quảng cáo và thế lực tài chánh. (...) Họa sĩ trở thành con bò tơ bị lùa vào thị trường mà giá cả luôn bị định đoạt bởi những nhà kinh doanh nghệ thuật với sự trợ giúp của ngành quảng cáo thượng thừa bùa phép.”

Đa số quần chúng không ở trong ngành hội họa có thể không hiểu hoạt động của dạng mafia này thực tế ảnh hưởng đến giới nghệ sĩ phương Tây đến mức độ nào, có điều kiện hóa, nô lệ hóa họ đến độ họ sáng tác hầu như dưới một hình thức đơn đặt hàng như dưới một chế độ độc tài :
“Riêng ngày nay, hay đúng hơn là từ cuối thế kỷ 20, khi Chủ Nghĩa Tư Bản Thực Dụng bành trướng ở phương Tây và Chủ Nghĩa Cộng Sản thống trị một số nước Phương Đông thì có một điểm khá giống nhau về lý do làm nên tình trạng hủy diệt sự tự do sáng tạo và tự do liên kết trí thức và nghệ sĩ.”

Chưa biết trong thực tế giới họa sĩ các nước phương Tây bị các thế lực này o ép đến mức độ nào, nhưng về phía người Việt Nam tị nạn, hy vọng các họa sĩ người Việt vẫn vẽ và triển lãm trong cộng đồng chúng ta sẽ không cảm thấy bị áp lực của cái lưới trời lồng lộng này.

Trong phần Nhận Định còn những bài viết về một số nhân vật thuộc giới nghệ thuật như Kiều Chinh, các họa sĩ Duy Thanh, Mai Trung Thứ, Thái Tuấn, các vấn đề như họa sĩ người Mỹ gốc Việt và “Dòng Chính Hoa Kỳ”, phê bình văn học và nghệ thuật của người Việt Nam. Các chân dung nhân vật được tác giả khắc họa linh động và gần gũi, nhất là khi đề cập khía cạnh nghệ thuật của họ tác giả đã có cái nhìn sắc sảo, cộng với rất nhiều hình ảnh về đời sống và tác phẩm của họ, khiến cho bài viết trở thành một mảng tài liệu rất quý cho lớp người nghiên cứu về sau.

Một trang về Nguyễn Gia Trí

Mở đầu chương II là một bài phỏng vấn họa sĩ Trịnh Cung, người đặt câu hỏi là Lê Đình Nhất Lang. Phải nói đây là một bài rất hay có tên gọi “Không Có Nền Nghệ Thuật Nào Bay Lên Chỉ Với Một Cánh”, mang lại cho người đọc nhiều hiểu biết thú vị lẫn thấm thía. Câu chuyện thời sự vào năm 2013, tỷ phú Leonard A. Lauder tặng bảo tàng Metropolitan Museum of Art một bộ sưu tập hội họa và điêu khắc trị giá 1 tỷ mỹ kim, đã khiến nhà báo Lê Đình Nhất Lang nảy ra ý thực hiện cuộc phỏng vấn về vấn đề thưởng ngoạn hội họa với họa sĩ Trịnh Cung.



 

Những trang viết về Paul Cézanne

Từ việc nhà tỷ phú tặng các tranh thuộc thời kỳ Lập Thể mà khi chúng mới ra đời quần chúng chưa hiểu và chưa mấy thích, người phỏng vấn đã nêu ra những câu hỏi như đứng trước một tác phẩm người xem có cần phải quan tâm đến yếu tố lịch đại để hiểu được, cảm được tác phẩm hay không, họa sĩ Trịnh Cung cho biết đó là điều cần thiết, vì “thời điểm ra đời của tác phẩm sẽ cho người xem biết nên dùng hệ quy chiếu nào để ‘đọc’ được nó. (...) Nghệ thuật mới sử dụng ngôn ngữ ẩn dụ và ngữ pháp khác thường nên không biết cách đọc thì chắc chắn người xem tranh sẽ thốt lên: Chẳng ra cái gì cả! Hoặc: Vẽ cái gì thế này?...” Đó là lời khuyên thiết thực chuẩn bị cho người xem tranh một số kiến thức tối thiểu, hoặc trang bị một thái độ sẵn sàng để hiểu được, cảm được tranh của một trường phái còn mới mẻ. Cuộc phỏng vấn kéo dài với nhiều vấn đề, và những câu trả lời đều chứng tỏ người được phỏng vấn có một kiến thức chuyên môn rất vững chắc. Câu chuyện dần dần dẫn tới tình hình quần chúng Việt Nam hiện tại không ham thích hội họa mấy, mà lý do theo họa sĩ Trịnh Cung là bắt nguồn từ nền giáo dục, khiến trong xã hội người vẽ tranh thì có mà người mua tranh thì vắng vẻ.

“Ý tôi muốn nói là một nền nghệ thuật phát triển phải có đôi cánh đều tốt. Hiện nay, nó chỉ có cánh sáng tác, đã đào tạo ra cả ngàn họa sĩ, nhưng cái cánh người xem thì ngày càng teo tóp, vậy lấy ai tiêu thụ những sản phẩm do phía họa sĩ làm ra? Người xem và mua tranh là một lực cân bằng và tác động rất lớn, có tính quyết định cho sự cất cánh của một nền mỹ thuật.

Đã không có người xem thì vở diễn phải dẹp và tất nhiên rạp hát phải đóng cửa, đó là thực trạng của thị trường mỹ thuật Việt Nam. Đây là chỗ phải giải của bài toán, và cách giải không có sự lựa chọn nào khác hơn là phải nhanh chóng thay đổi phương pháp giáo dục mỹ thuật cả từ các trường chuyên nghiệp lẫn từ bậc mẫu giáo đến trung học.”

Đó là những nhận định của một họa sĩ đã gần như suốt một đời sống và vẽ trên đất nước của mình, không những biết rõ mọi sinh hoạt nghệ thuật của xã hội Việt Nam mà còn là một người nặng ưu tư về nền nghệ thuật của xứ sở trong tương lai.

Các bài khác của chương II đều là những câu hỏi đi sát những vấn đề cơ bản của hội họa, và cách trả lời sinh động, sắc sảo, mở ra cho người đọc những khung trời độc đáo của mỹ thuật, mà một người bình thường không mấy khi có dịp biết tới. Chẳng hạn “Hình như bên nghệ thuật tạo hình, lý thuyết bao giờ cũng đến sau thực hành của các nhà nghệ sĩ. Lý thuyết dẫn dắt cuộc sống hay cuộc sống là nguồn cội của lý thuyết? (...) Riêng về nghệ thuật, lý thuyết luôn đi sau sáng tạo.”

Hoặc: “Chính trị nào thì sẽ sản sinh ra nghệ thuật ấy, do đó, hội họa cổ điển của các thế kỷ từ 14 đến 19 phần lớn bị phủ bóng của nền chính trị phong kiến-Thiên Chúa giáo, trái lại nghệ thuật hiện đại là sản phẩm của nền chính trị-dân chủ-tự do được khai sinh từ sau cuộc cách mạng Pháp năm 1789.”

Một điểm nổi bật của cuốn sách này là phương diện hình thức. Rất đẹp. Hẳn độc giả sẽ nói, sách của một họa sĩ viết về mỹ thuật thì dĩ nhiên phải đẹp rồi. Có thể là như vậy, nhưng không phải luôn luôn như vậy. Riêng cái đẹp ở quyển sách này không chỉ bắt nguồn từ sự trình bày chăm chút của bàn tay nghệ sĩ -- tôi nghĩ chính cuốn sách đã là một tác phẩm nghệ thuật rồi -- mà chính yếu là kho tư liệu mỹ thuật cổ kim mà tác giả sưu tầm rất dồi dào và in với màu sắc tuyệt hảo, đầy đủ theo từng bài để minh họa cho những giảng giải, lý luận của mình. Đây là một điều hiếm có trong sách vở của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Nội dung và hình thức của cuốn Nhận Định Và Những Câu Hỏi Về Mỹ Thuật của họa sĩ Trịnh Cung là đúc kết những hiểu biết sâu rộng về nghệ thuật tạo hình, những ưu tư về tình hình sinh hoạt mỹ thuật trên thế giới và Việt Nam, giúp người đọc cảm thấy gần gũi hơn với một lãnh vực rất cần thiết trong cuộc sống tinh thần và tình cảm của mình là thẩm mỹ, nhưng phần đông ít ai để ý tìm hiểu. Một quyển sách đáp ứng khá đầy đủ về mặt kiến thức mỹ thuật lẫn phương diện thẩm mỹ cho những ai đọc nó và thưởng thức nó. Và dĩ nhiên cần có nó trên kệ sách của mình như một hiện thân của cái ĐẸP.

22 tháng 9, 2017

Phạm Xuân Đài

Monday, August 14, 2017

Giới thiệu bản dịch tiếng Anh của bài Những Gì Thấy Được ‘Trong Đống Tro Tàn’ của Trần Văn Thủy


Đầu năm 2017, nhà xuất bản Người Việt tại Nam California đã ấn hành cuốn “Trong Đống Tro Tàn” của Trần Văn Thủy, một nhà văn và nhà đạo diễn phim ảnh nổi tiếng ở Hà Nội. Ở đầu cuốn
Trong Đống Tro Tàn có đăng bài giới thiệu nhan đề:
Những Gì Thấy Được ‘Trong Đống Tro Tàn’ của Trần Văn Thủy
của PHẠM PHÚ MINH

Một người Mỹ, Giáo sư Eric Henry, bạn của nhà văn Trần Văn Thủy đã dịch bài này sang tiếng Anh vào tháng 6, 2017, chúng tôi xin hân hạnh được đăng tải dưới đây.
Bạn đọc nào muốn đọc lại nguyên bản tiếng Việt của bài này có thể bấm vào một trong những đường nối sau đây :
http://phamxuandai.blogspot.com/2017/05/nhung-gi-thay-uoc-trong-ong-tro-tan-cua.html
http://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/nhung-g-thay-duoc-trong-dong-tro-tn-cua-tran-van-thuy-2/
https://www.nguoivietshop.com/news/những-gì-thấy-được-‘trong-đống-tro-tàn’-của-trần-văn-thủy/
https://sangtao.org/2017/02/15/nhung-gi-thay-duoc-trong-dong-tro-tan-cua-tran-van-thuy/
http://www.boxitvn.net/bai/46824
https://uyennguyen.net/2017/03/14/pham-phu-minh-nhung-gi-thay-duoc-trong-dong-tro-tan-cua-tran-van-thuy/
DĐTK
                                                        

Points That May Be Observed in 
“The Heap Dusty Ashes” by Trần Văn Thủy
(Những Gì Thấy Được ‘Trong Đống Tro Tàn’ của Trần Văn Thủy)
Phạm Phú Minh
Translated by Professor Eric Henry




The writer, film director Trần Văn Thủy and Professor Eric Henry in Hà Nội, July, 2017

To the best of my knowledge, the writer and film director Trần Văn Thủy is the first person living in the contemporary society of Vietnam who set forth the problem of kindness in his own productions. His documentary film On Being Kind was made in 1985, and after being shown several years later, it created a great upheaval in the consciences of viewers, not just in Vietnam, but in many places around the world.
What does this mean? What is this about kindness? Well then, what is strange about it? Is it not the case that from the time of the creation of Heaven and Earth, human beings have lived amid an endless struggle between Good and Evil—this reminds me of the name of an American film, From Here to Eternity, or as the French render the title, Tant qu’il y aura des hommes—as long as there are people—as long as people still exist. The English and French titles of this famous film both allow us to see that the conflict between Good and Evil will continue forever in human society, a fact impels us to think more deeply, as we perceive that the essence and goal of our lives is to do our best to push down that which is evil, so that good can rise to the top.
But on reflection we observe an odd thing, that the spiritual hierarchy according to which Good and Evil are distinguished was determined long, long ago, and perhaps arose directly as an instinct inherent in living things: life is good, murder and destruction are evil; love is good, hatred is evil; freedom and ease are good, imprisonment and limitation are evil; invention and development are good, backwardness and lack of progress are bad; being well-fed and warmly clothed is good, hunger and nakedness are bad. One could go on endlessly listing these pairs of good and evil opposites—a sign that the destiny of human beings is unstable, but the experience of living and the spiritual development that goes along with becoming a mature person both affirm the direction that we need to follow and, and show us what things we need to eliminate. This consciousness has created a kind of TRUE DOCTRINE of life, common to all people east and west, ancient and modern.
That people should live in kindness with others and with nature is merely a principle that already lies within the True Doctrine of life, but the reason a person like Trần Văn Thủy had to make a film so as to set this forth as a grave problem of conscience is because life under the system governing the Vietnamese appeared to be lacking in Goodness, and in fact seemed to be inclining toward evil. This was not a question of Good and Evil within an ordinary society, but was the result of the policies of an unusual regime. Due to this, the crisis resulting from the tendency of Evil to suppress Goodness became daily more evident: it became a crisis for the country as a whole.
The film On Being Kind first appeared in 1985—counting back from the present year, 2016, that was thirty-one years ago. So where has the journey of this film and the man who made it brought us by now? The tale of the secret smuggling of this film across Vietnam’s border so that it could be shown at the Leipzig film festival at the end of 1988 could be the subject of a breathlessly suspenseful detective film. And when the film’s maker slipped across the border to France on the same evening when the film was shown and enthusiastically received at the Leipzig film festival, this was in itself every bit as suspenseful. Only after arriving in France did the film’s maker learn that On Being Kind had won the Silver Dove award at the Leipzig festival. Then it was shown in theaters and on television in France. And after that, many other countries purchased rights to the film and showed it.
When participating in the festival where On Being Kind was shown, Director Trần Văn Thủy stood on a terribly thin, fragile line; either the film would win a prize and he would become a man of achievement who could safely return to Vietnam, or, if the film gained no award at all, he would have no choice but to become an exile in Western Europe.
But “Kindness” smiled on him, and today, at the age of seventy-six, Trần Văn Thủy has consolidated his career with the book Thủy’s Craft (Chuyện Nghề Của Thủy), and the book Amid the Heap of Dusty Ashes that you, reader, are now holding in your hands. What Thủy’s “heap of dusty ashes” refers to depends on how the reader sees it, but as for the author, I would guess that the name is in some sense a summing up of his personal journey throughout the last fifty years (1966 -– 2016). It doesn’t necessarily carry a negative meaning, as when we stand before the remains of a house consumed by fire with nothing remaining but ashes—it is rather the summation of a period encompassing nearly the whole of his life filled with unending vicissitudes on a theme nearly unique: kindness. This “heap of dusty ashes” is merely a manner of speaking, and perhaps includes a suggestion that somewhere in this disorderly heap there may remain a few embers from which Goodness may burst into flame again.  
But one thing is for sure; in this heap that the author refers to as “ashes” there lies a heart stirred into a blazing passion by all the events of his life. Many of these events are recounted in this book, and the reader, going through them, will encounter tales of joy and sorrow, memories of past events, nearly all of which have one theme; the elevation of the moral nature of man, a theme that all the great religions have recognized and used to lead humanity. This is perhaps the author’s final literary production, for it even contains a “last will and testament” in the chapter “Some Words Left to Others,” in which the author gives directions for everything that is to be done after his passing. These words seem very much like the author’s Last Wishes, including as they do many concrete instructions for the conduct of his funeral, as well as family and clan matters. At the end of this chapter he writes: 
It seems that in this life, there are few if any people who, when they close their eyes and unclench their hands for the last time, do not feel regret for one thing or another. As for me, I regard myself as an ordinary person who has done his best in every situation to do his duty. But my powers are limited; I just feel sorry for the young ones, for our grandchildren. They will come into a meager and scattered inheritance only. It won’t be easy for them to enjoy happy lives in the full sense of the expression, such as we of our generation have wished for them. 
But in any case, I wish to express the sincere wish that every one of them will be able to live lives full of happiness, and live in the peace and purity of a society that is more honest, more tolerant, than in the past.
What he regrets is that his grandchildren’s generation will not be able to enjoy happiness in a complete sense, such as his own generation had wished for them—in other words to live in a society more honest and kind. The word “more” here is full of significance and reflects the sad facts of modern Vietnamese society.
Chapter 2, “My Father,” is the essay that I feel is the most important in the book. In recounting the story of his father’s life, he clearly states that he is “fondly remembering his teacher”—the man who was his biological and spiritual father—which shows the depth of love and respect with which he regards this figure, who, it seems to me, served as a model, a mirror, for his entire life.
There was one thing his father said that the author, throughout his life, was unable to forget, a sentence calmly uttered after he had witnessed the execution by shooting of a close friend, uncle Phó Mâu, during a “struggle” session. 
After the day when he returned to Cồn Market to bury uncle Phó Mâu my father went upstairs to lie down. A moment later, he called me and Lại, my next younger brother, upstairs. The two of us sat and waited for his instructions. He continued lying there, his arm across his forehead, without saying a word. I don’t know why, but whenever my father was silent like that, I was very fearful. I spoke to him very quietly:
“What do you have to say to us, father?”
Shortly afterward he uttered one short sentence:
“All — is — ruined, my sons”
I didn’t understand. At that time I understood nothing. Again I asked, “What is it you wish to tell us?”
“Uncle Phó Mâu and I helped the Việt Minh in all sorts of ways—and now he has suffered an unjust death! There is nothing left for me to believe in anymore!”
Throughout my life, I have been continually aware of all that my father said to me. This is not the place tell about all of these things, but that sentence, so full of pain and reluctance, “All — is — ruined, my sons” I will surely be unable to forget even as I descend to the grave.   
Surely, when a youth hears his father utter such a sentence amid a set of special circumstances in his country, it will become something impossible for him to forget. “All — is — ruined, my sons,” a blanket, sweeping expression of a total collapse within the spirit of the father, who conveyed to his sons a consciousness of the future of the society in which they lived, with who nows [knows] how much hope that this regime would open up a splendid new period for the country. “All is ruined” was the crucial mark or scar laid down in the soul of the author when he came into adulthood, so that throughout his life he would strive to perceive in what ways society was ruined; and the impression made by this utterance served as a guide to his behavior, so that he could raise a voice of warning to everyone concerning an endlessly tragic crisis threatening an entire people.
In this book, which the author evidently considers his last effort, we feel that the chapter “My Father” is the place where Trần Văn Thủy states what he most fiercely believes in this life, which is the True Doctrine transmitted to him by his father. His father had received this True Doctrine from the age-old traditions of the people of Vietnam, and it was in no way different from the True Doctrine held in common by humanity for thousands of years.
Trần Văn Thủy ponders this basic question in the various other chapters of this book. He is in essence a documentary filmmaker, a man who throughout his career always noted and reduced to writing the various topics that should be made into films—but alas, not many of these intentions of his have turned into realities. In the chapter “Scripts That Didn’t Turn Into Films,” he records the content of those of his cinematic children who never saw the light of day, mentioning many details, and sometimes expressing rage.
For example, as early as 1980, he had a filmscript about Trịnh Công Sơn:
Another film script that pleased me no end was when I wrote about Trịnh Công Sơn in 1980. Perhaps because I had just returned from Russia and had just finished making the well-known film “Betrayal” (1979 – 1980) and was eager for more notariety, I wrote about Trịnh Công Sơn. I wrote about the months and days in which, as I lay in the mouldy tunnels of the southern warfront (1966 – 1969), I would stealthily listen to the Saigon broadcasting station and get gooseflesh as I listened to the songs of Trịnh Công Sơn, hearing such lines as, “The cannons echoing night after night in the city, The street sweepers suddenly stop their sweeping to stand still and listen; the Vietnamese girl with golden skin… I was obsessed by the people of the South, and the music of Trịnh Công Sơn. How could I have loved it to that extent? Why was I so deeply stirred by it? The problems I laid out in the script didn’t have to do only with the mesmerizing melodies and lyrics of Trịnh’s music, but centered on a question I asked myself: What was the region, what was the culture, what was the character, that had created this pure and good soul, that had created a person of such sincerity? If, in the words of Karl Marx, “A human individual is a product of the fusion of many social relationships, then why did the society of the South, permeated by the crimes and refuse of the American puppet government—produce a Trịnh Công Sơn?
Thirty years after making On Being Kind to awaken feelings of compassion in the society in which he lived, Director Trần Văn Thủy acknowledges with bitterness that he still lives in the kind of society that provoked him to make the film, but:
Nowadays, under a regime that does everything in the name of excellence, people see no end of regrettable things in the relations of people with each other—greed, factionalism, and dishonest political deals. Virtue has declined to a fearful extent…   
Everybody knows that courts and laws serve only to resolve situations that arise as the result of people’s actions; if you want to go further and stop the buds of evil from maturing, to eliminate it when it is still in embryo, that is, when it exists only in people’s thoughts, then nothing is as good as religion. (…) Religion in the general sense, anything that teaches truth and rectitude, urges people to think of Goodness, to perform acts of Goodness, to avoid evil, to distance themselves from evil. In this way, such teachings make a positive contribution to the enterprise of preserving virtue, order, and stability in society, and makes for a stronger, healthier nation…
Every chapter in this book concerns a matter of interest and, one can say, has an attractive character, but all are suffused with strong feelings that sweep the reader into he [his] discourse. The writer observes the people he knows, together with the joyous and sad things that have happened to him, with great acumen, and when he relates them, all these things turn into lessons for the reader, lessons concerning character, concerning an attitude of living in the world with an unchanging concern: to focus vigorously On Being Kind and compassion.
The author has a very broad range of relations; the topics he writes about range from the filmmaking world of Japan to Americans active in cultural or charitable activities, from making a film about the cathedral complex in Phát Diệm with its unique architecture, to a doctor of rare character who cared for lepers, Dr. Trần Hữu Ngoạn. On finishing the chapter devoted to this last figure, the reader feels constrained to cry out, “There was a saint or a bodhisattva! And he has a chapter on the musician Phạm Duy, whom he revered from the time he was little.
With the sensitive, discerning eye of a documentary film director, along with a spirit that elevates Goodness and opposes Evil, and in addition to this the sharp shrewdness of a person who has lived his life within restrictions, and has always thirsted to tear down the walls surrounding him to promote principles that did not at all accord with the paths taken by the society he lived in, Trần Văn Thủy is entirely worthy of an observation made by the American Larry Berman: 
 “... it was a war that ravaged so many, yet left us with survivors like Tran Van Thuy, war photographer, filmmaker and ultimately philosopher.”
[excerpted from an introduction to the English translation of his autobiography entitled “In Whose Eyes.”] 
In view of the role Trần Văn Thủy has played, and looking at the society in which he had to live, and at the way in which he drew observations, judgements, and analyses, so as to tear down the fiendish ideological barbed wire fence in the era in which we live—we can see that, quite apart from his professional role as a filmmaker, he is truly a philosopher, a philosopher who charges into the fray of existence with deep and courageous books and films.
For example, when we watch the film On Being Kind, or at least look at the film script, which the director himself wrote, we will see how crucial the ideas in this script are. With no script, the film would be a silent movie; that much is obvious; but what is important are the words that Trần Văn Thủy put into the script. Those words are the soul of the film. They are succinct and easy to understand, but they have a wide application—whatever one sees or hears goes to the heart of the matter, and the film has a special ability to cause the viewer to understand things beyond what he actually sees. Thus, inherent in the script is a philosophy of events and things that raises them to a higher level of generality.  
With great rapidity the world caught the significance of the humane signals that Trần Văn Thủy had implanted in the film On Being Kind. In the late 1980s more than ten large television stations throughout the world purchased the rights to the film, and the American John Gianvito named the film as one of the ten best documentary films ever made. Such a thing had never previously happened in the history of Vietnamese cinema.
More than ten years ago Trần Văn Thủy published a book entitled If You Go to the End of All te [the] Seas in which he posed a question both concrete and metaphysical: if you cross all the seas, where will you arrive? Starting at the outset with the concept of a round world, the author expressed the view that, “If you cross all the seas, all the oceans, and cross all the continents, traveling ever onward, ever onward, you will in the end come back to your homeland, to your own village. But many years later, when he went to the United States, only then did he see that the Vietnamese in distant lands had crossed all the oceans, all the continents, going ever onward, but were in the end unable to return to their homelands, their villages.
The newest book, Within the Heap of Dusty Ashes, gives us the impression that the author does not pose that question to himself any longer. The geographical road, whether on the face of the earth or the sea, is clear—if you keep going further, you can return to the place you started from. But for the road that passes through people’s hearts and all its entanglements with life, one cannot lay down any simple route. The feelings and objectives of the Vietnamese when they thrust their boats into the open sea so as to cross oceans were not such as to make them ask themselves the romantic question about where they could arrive if they went to the end of all the seas. They instead aimed to arrive at some harbor where they could live a free life worthy of a human being. But their lives grew settled in their new surroundings; then, for sure, the road turning back to their homelands still existed in their hearts in many different forms, political, economic, sentimental… and oftentimes only as a dream of returning to a land finer than before, more worthy to be lived in.
But it is surely not the case that the only such road is a concrete one with two directions, going out and coming back, circumscribing our lives. Anyone at all can open numberless roads in his or her heart leading to numberless places that the work Within the Heap of Dusty Ashes itself refers to repeatedly: the road of a kind heart, the road of benevolence. The road of human feeling is wide and vast…
When the musician Phạm Duy wrote the concluding words to his song cycle The Mandarin Road, he depicted the mental state of a Vietnamese who, arriving at the southern peninsula of Cà Mâu, has completed a southward journey through the land’s entire length:
My journey has reached its end! The hearts of people are joined!
May you halt here for a moment in joy!
What you have dreamed of now is here!
The road dissolves the borders,
That people may forever
Travel in a realm of feeling everlasting.
The roads of the world lead far
In the hearts of people of all lands.
Could it be that when he wrote these words in the year 1960 Phạm Duy had a presentiment of the roads of the world “leading far” that the Vietnamese people would travel, and that later raised a perplexity with regard to the journey’s end in the mind of Trần Văn Thủy? But Phạm Duy also saw the joy to be found in “a realm of feeling everlasting”—could it be that this is the feeling of humanity, of kindness, of love, that Trần Văn Thủy strove to awaken and promote throughout his life, so that it would win out over crudity and evil?
South California, Nov. 1, 2016 
Phạm Phú Minh