Monday, June 26, 2017

Chiều 24 tháng 6, 2017


Trong dịp kỷ niệm 25 năm thành lập VAALA, 
tại nhà bác sĩ Hà Quốc Thái, Los Alamitos, 
chiều 24 tháng 6, 2017.

Saturday, June 24, 2017



Gửi cả nhà,

Tối qua tôi mới nghĩ ra điều này, nhờ cả nhà kiểm chứng hộ về phương diện khoa học: cái tổ chim không phải là "nhà" của loài chim, mà chỉ là "nhà hộ sinh" của giống có lông vũ thôi.

Nhớ lại, chuyện làm tổ của loài chim hình như chỉ có mục đích đẻ và ấp trứng, chứ tôi không thấy có con chim nào làm tổ để ở cả. Gần gũi mình nhất là con gà. Khi gà mái đi lanh quanh trong nhà ngó dáo dác và cất tiếng kêu lạ (thường gọi là gà kêu ổ) thì ai ở nông thôn cũng biết là con gà đang có nhu cầu tìm chỗ đẻ trứng, và lo tìm một cái rổ cũ lót rơm vào và đặt vào một chỗ thích hợp để gà đẻ và ấp trứng. Khi trứng nở ra gà con thì người ta mang hết mẹ con chúng nhốt vào một cái lồng rải tấm cho gà con ăn và để nước cho chúng uống, độ một tuần cho gà con cứng cáp rồi thì thả ra cho gà mẹ dẫn đi ăn, tối về tìm một xó chuồng nào đó gà mẹ xòe cánh ủ đàn con đi ngủ chứ không bao giờ dùng tới cái "ổ gà" nữa.

Quan sát các loài chim khác mình cũng thấy như vậy, chưa thấy có loài nào dùng ổ làm nơi trú ngụ. Đó chỉ là nơi đẻ trứng ấp con. Khuya hôm qua rồi sáng sớm hôm nay lúc 5 giờ, chúng tôi ra xem cái tổ của con chim hút mật thì thấy rỗng không. Mẹ con con chim không bao giờ còn về lại cái tổ ấy nữa. Nhiệm vụ cái tổ đã xong rồi.


m

Sunday, June 11, 2017

MÊ HOANG

Mùa hè năm nay của tôi bắt đầu với bài thơ này 

Nghe tiếng nước cười
         


Mở cửa ra anh đất trời rất lạ
em đoán mùa hạ về với bình minh
áo cánh em phơi qua đêm ngoài giậu
con chuồn chuồn kim ghé xuống tỏ tình

Mở cửa ra anh xem mặt trời mọc
nhìn con sâu nhỏ đo đoá hồng vàng
nó cười cuộc đời chỉ trong gang tấc
sao lại tiếc nhau một chút mê hoang 

Mở cửa ra anh đón vào mùa hạ
bàn ghế cong mình gỗ dương gỗ âm
nắng đã theo em vào sau cánh cửa
mùa hạ tung tăng trên cả chiếu nằm

Mở cửa ra anh quơ tay gọi gió
thả chân mặt hồ nghe tiếng nước cười
hai ta mỗi người một đầu mùa hạ
mình căng sợi nắng khai mạc cuộc chơi




Một bài thơ của thi sĩ Trần Mộng Tú, hình như làm đã lâu rồi nhưng năm nay tôi mới được đọc lần đầu đúng vào lúc mùa hè vừa tới. Bài thơ là một nỗi rạo rực, một cái gì ẩn kín vừa sống dậy, một vũ điệu tung tăng tinh quái chợt biến chợt hiện rất khó nắm bắt, nhưng vô cùng quyến rũ... Tôi tự nhủ: Bình tĩnh nào. Thơ Trần Mộng Tú tài hoa nhưng không bí hiểm, từ từ xem lại “cái đó” là gì...
A, cái áo cánh em phơi qua đêm... con chuồn chuồn kim ghé xuống... tỏ tình



Rồi lại cái gì đây nữa: Sao lại tiếc nhau một chút mê hoang, chao ôi !...

Đến bàn ghế trong nhà cũng thức dậy trong cơn động tình mà mùa hè đang thúc gọi bàn ghế cong mình gỗ dương gỗ âm

Và rồi đến cái thế giới “sau cánh cửa”, mùa hạ hay là cái gì tung tăng trên cả chiếu nằm ?
Không, tất cả chỉ là chuẩn bị, là khai tấu khúc cho nghi lễ này:
hai ta mỗi người một đầu mùa hạ
mình căng sợi nắng khai mạc cuộc chơi
Đỉnh điểm của bài thơ chỉ thực sự bắt đầu ở hai câu thơ chót, cuộc chơi chỉ bắt đầu trong chói chang mùa hạ, của ngoại giới lẫn tâm hồn và thân xác khi mình căng sợi nắng.
Nhưng trong toàn bài thơ đầy những từ ngữ ẩn dụ chuẩn bị cho khai mạc cuộc chơi, hai chữ mê hoang ở khổ thơ thứ hai theo tôi đóng một vai trò then chốt. Nó cũng chỉ là một ẩn dụ, nhưng ngầm chứa nhiều trạng thái, nhiều ý tứ phong phú đến độ như là một bảng chỉ đường vào cõi hoan lạc mà mùa hè vừa đột ngột mang về. 
Cần xem lại ý tứ cả bốn câu của khổ thơ thứ hai. 
Mở cửa ra anh xem mặt trời mọc
nhìn con sâu nhỏ đo đoá hồng vàng
nó cười cuộc đời chỉ trong gang tấc
sao lại tiếc nhau một chút mê hoang
Khởi đầu là “anh” mở cửa ra xem mặt trời mọc và gặp con sâu đo trên đóa hồng vàng. Sâu đo là loại sâu không có chân để bò; để di chuyển, nó uốn cong người lên rồi phóng cái đầu tới trước, cả thân hình nó lại nằm thẳng trên mặt phẳng, sau đó lại cong người lên và phóng tới, nó “đi” mà giống như nó đang đo khoảng cách vậy. Vì “khả năng đo đạc” ấy của con sâu, tác giả gán cho nó công việc đo thời gian, và kết quả là nó cười cuộc đời chỉ trong gang tấc, ngắn lắm.

Nhưng con sâu đo này cũng to gan thật, nó biết gì về gang với tấc mà dám bảo cuộc đời chỉ trong gang tấc ? Cả người nó, phóng một cái rồi nằm sóng soài ra, bất quá chỉ tiến được vài ba phân. Nhưng con sâu sẽ trả lời, công việc cả đời của tôi là đo, đo ngang đo dọc mãi thì còn chiều dài nào mà tôi không biết ! Cuộc đời ấy à, tôi biết rất rõ, chỉ là trong gang tấc.
Nhưng gang tấc là gì ?

Là những đơn vị đo chiều dài, ngày xưa. Tôi nhớ khi tôi còn nhỏ tôi có thấy cái “thước ta” trong nhà ông nội tôi, nó ngắn lắm, chỉ bằng độ 40 xăng-ti-mét của thước tây, trong đó cũng có chia ra từng tấc khoảng 4 hay 5 xăng-ti-mét. Tôi nhớ đại khái thế. Thời đó, khoảng năm 1944 tôi đi học trường làng, cả làng tôi hình như chưa có nhà nào biết dùng thước tây, kể cả các ông thợ mộc mà thước của họ tuy có tên gọi là “thước mộc” nhưng cũng giống y như “thước ta” thôi. Cô tôi có tổ chức mướn thợ về dệt vải và thao (một loại lụa thô) tại nhà, và tất cả sản phẩm đều được đo bằng thước ta.

Không phải nhà nào cũng có thước, tôi biết điều ấy vì thỉnh thoảng những nhà trong xóm khi có việc gì cần đo đạc thường đến mượn thước của cô tôi. Đấy là khi đo những vật cần chính xác, còn thông thường người ta chỉ đo bằng gang tay. Với bàn tay của mình, một người có thể có ba đơn vị đo lường: từ ngón tay cái, xòe thẳng ngón trỏ ra, khoảng cách đó là một gang; cũng thế, với ngón tay giữa, cũng một gang nhưng dài hơn một chút; gang dài nhất là từ ngón cái đến ngón út được xòe tối đa. Chẳng có quy định thống nhất một gang là dài bao nhiêu, đó là lối đo cá nhân, mỗi người dùng chính bàn tay của mình để đo hầu có một khái niệm khoảng cách cho riêng mình thôi. Với bàn tay của người Việt Nam, một gang trung bình là 20 xăng-ti-mét (20cm).

Trong cách đo này, hình như con người có mô phỏng thiên nhiên. Hãy quan sát một người đang đo chiều dài một cái bàn với bàn tay của mình : y hệt như con sâu đo. Thoạt tiên cũng khum bàn tay lại với ngón cái dí sát vào vật được đo, đó là hình ảnh con sâu đang cong mình lên sắp sửa phóng tới. Tiếp theo bàn tay xòe ra nằm bẹp xuống bàn, ấy là một gang tay đã được thực hiện, người ta đếm một. Rồi ngón cái di chuyển đến điểm mới, bàn tay lại cong lên và lại phóng tới, người ta đếm hai. Cứ thế, bàn tay khum lên rồi xẹp xuống, thoăn thoắt tiến tới cho đến lúc chiều dài của cái bàn được tính xong là bao nhiêu gang.

Và tiếng Việt có chữ kép “gang tấc” để chỉ một khoảng cách rất ngắn. Với người lính ở trận tiền thì “cái chết trong gang tấc”. Với hai người yêu nhau, tuy phải cách xa nhau nhưng “trái tim chỉ trong gang tấc”.
Con sâu đo, dù chỉ đo bằng chính thân mình nhỏ bé của nó, cũng đã dám buông lời ngạo nghễ: nó cười cuộc đời chỉ trong gang tấc.

Nhưng cũng nhờ lời ấy của con sâu mà dẫn đến câu then chốt của khổ thơ “sao lại tiếc nhau một chút mê hoang” khi biết rằng chiều dài cuộc đời thật ra có được bao nhiêu đâu.
Mê hoang là một chữ của ngôn ngữ thơ, nó gợi lên một trạng thái khác thường trong đời sống của con người. Mê là ngược với tỉnh, thần trí lúc mê không còn sáng suốt mà ai trong chúng ta cũng đã trải qua, ví dụ mê ngủ, khi ốm nặng có thể rơi vào mê man, mê sảng không còn ý thức. Trong nghĩa rộng nó còn có nghĩa yêu mến một cái gì rất mãnh liệt, như say mêđam mê một môn nghệ thuật, trong tình yêu thì có mê gáimê trai, mê đắm...

Nhưng mê hoang là chữ ít gặp trong ngôn ngữ thường ngày, lại làm gợi lên một cảm xúc khác lạ nếu được đặt một cách đắc địa trong một ngữ cảnh văn hay thơ.
Nhưng hoang là gì? Hoang theo nghĩa thường dùng nhất là một nơi chốn không ai héo lánh tới, như đất hoang, nhà hoang; rộng hơn là vùng thiên nhiên chưa được khai phá như hoang dãhoang vu; một cuộc sống chưa đạt đến chỗ văn minh như hoang rợ, hoang sơ; hoặc vi phạm vào một nề nếp của xã hội như người đàn bà không chồng mà có chửa thì gọi là chửa hoang, đứa con không thừa nhận là con hoang; một lối sống không theo giáo dục của gia đình thì gọi là hoang đàng.

Có nhiều cách dùng chữ hoang lắm, nhưng đại để là chỉ tình trạng chưa khai phá, chưa văn minh, hoặc không theo lề luật đã được mọi người công nhận.
Chữ hoang trong mê hoang có theo những cách hiểu vừa nêu không? Tôi nghĩ cũng theo nghĩa đó, nhưng lại nằm trong một lãnh vực và môi trường khác, ít ai để ý đến, đó là vùng tâm sinh lý của con người, đó là ý nghĩ, cảm xúc, cảm giác.

Thật thế sao, trong con người chúng ta cũng có những chỗ hoang, vùng hoang sao?
Một quá trình dài trong lịch sử của mình, các dục vọng của con người được khuyến cáo, dạy dỗ, thậm chí bắt buộc phải kìm nén lại, vì hầu như nền văn minh cổ xưa nào cũng thấy tham vọng, dục vọng là cái xấu xa tội lỗi. Và cái được kiểm soát ngặt nghèo nhất lại chính là cái ham muốn mạnh mẽ nhất: tình ái, tình dục. Nhu cầu ấy bị cho vào khuôn phép, nhất thiết không được buông thả. Nhớ lại cách đây không xa lắm, chỉ mới trong nửa đầu thế kỷ 20 thôi, nền luân lý nho giáo ở Việt Nam đã kiểm soát chặt chẽ mối quan hệ nam nữ như thế nào: nam nữ thọ thọ bất thân. Lớp người trẻ vừa lớn lên, nhất là người nữ, được dạy dỗ kỹ lưỡng tứ đức tam tòng, đã được chỉ định cách ăn mặc sao cho kín đáo, ngôn ngữ cử chỉ phải nghiêm chính không được lả lơi, và cuối cùng việc hôn nhân là phải “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” chứ không được tự do luyến ái.
Trong một nền giáo dục như vậy có nhiều nhu cầu tự nhiên của một con người mới lớn bị cấm đoán. Tình cảm tươi đẹp của người thiếu nữ bị chặn lại, có thể nói là bị khóa chặt lại: tâm hồn họ có một vùng hoang vắng họ không dám bén mảng vào. Thân thể một người con gái dậy thì có biết bao điều mới lạ xinh tươi họ phải nhốt lại với áo xống mớ ba mớ bảy: lại thêm một vùng hoang vắng được giáo điều tạo lập ra.
Mà không phải chỉ phái nữ. Chính tôi, từ khi là một thằng bé con cũng bị kiểm duyệt liên tục trong cuộc sống trong nhà. Không được nói tục thì hẳn nhiên rồi, lời ăn tiếng nói của “con nhà” thì phải tỏ ra có được dạy dỗ. Nhưng tôi còn bị theo dõi chặt chẽ ở một vùng ngôn ngữ khác là các bài hát, mà một đứa bé năm sáu tuổi chỉ suốt ngày nghêu ngao theo người lớn thôi. Tôi nhớ khoảng năm 1943, 44 hai bà chị của tôi hay hát Buồn Tàn Thu lắm, nhưng nếu tôi bắt chước :
Còn nhớ năm xưa
Kề má say sưa
Nhưng năm tháng qua dần
Mùa thu chết bao lần...
thì bị cảnh cáo ngay: “Ê, Minh. Con nít không được hát câu đó.” Đó là lệnh, không tuân theo thì bị đòn, nên tôi tự động xa lánh những câu mà mãi sau lớn lên tôi mới hiểu tại sao tôi bị cấm: kề má say sưa là động tác ái tình. Thời đó hẳn nhiên các bà chị của tôi cũng chưa ai có kinh nghiệm kề má cả, nhưng các bà hiểu đó là cái gì nên không muốn cậu em 5 tuổi “biết về nó” quá sớm !
Ảnh hưởng của các cấm kỵ như vậy sâu đậm hơn là mình tưởng. Mãi về sau lớn lên, đã “hoang” nhiều rồi mà những cấm kỵ vẫn còn theo mình. Tôi nhớ trong đám cưới của anh Tạ Ký khoảng năm 1962 tại Sài Gòn (lúc đó tôi đã học năm thứ hai Đại học sư phạm tại Đà Lạt), tôi và một đám bạn bè làm ồn ào ở một bàn riêng biệt với những tiếng hô : “Một, hai, ba... Dô!” Bỗng tôi bắt gặp từ một bàn khác một cặp mắt nhìn tôi, hơi nhíu mày và lắc đầu nhè nhẹ. Tôi khựng lại ngay. Cặp mắt của anh Cao Huy Thuần. Ông bố của anh Thuần và bố của tôi là bạn cùng dạy tại một trường tiểu học thời chúng tôi còn nhỏ xíu, hai gia đình rất thân với nhau, cùng một nề nếp giáo dục như nhau, đến nỗi anh Thuần, hơn tôi vài ba tuổi, mấy mươi năm sau vẫn có thể “can thiệp, nhắc nhở” khi tôi lao vào chỗ nhậu nhẹt ồn ào ấy. Cái nhíu mày của anh có kết quả ngay lập tức, chứng tỏ cái mẫu số chung giữa anh và tôi về giáo dục gia đình vẫn còn nguyên ngay cả khi chúng tôi đã bước vào đời.
Dĩ nhiên một nền giáo dục chặt chẽ như thế có những cái hay và cái dở của nó. Nó tạo nên những con người tề chỉnh, nhưng ngẫm cho cùng, cũng nghèo nàn. Khi nhỏ tôi có sống ở làng quê tôi mấy năm, và tôi cũng làm bạn với những đứa nhỏ con các nông dân quen biết với gia đình tôi. Khi tôi đi học vỡ lòng tại trường làng thì những đứa bạn chơi đùa ấy của tôi vì nhà nghèo quá vẫn không được đi học. Và lắm khi tôi có cảm giác mơ hồ là tôi thèm sự hồn nhiên của chúng nó. Chúng tôi đã bày đủ trò chơi trong vườn nhà ông nội tôi, nào buôn bán, cúng tế (tôi biết những tiếng hưng, bái, bình thân là do đám bạn này), nhồi đất nặn tượng, biến chế những khóm mít hái trong vườn với muối và gừng vừa ăn vừa xuýt xoa chảy nước mắt... nhớ lại, đó là chuỗi thời gian hào hứng của tuổi thơ. Nhưng có một điều tôi không học được từ chúng, đó là cái ngôn ngữ nguyên sơ của chúng. Chúng gọi tên từng bộ phận trong cơ thể người nam và người nữ đúng với tên nguyên thủy; những cảnh giao phối của loài vật xung quanh chúng gọi bằng tên thật của động tác tự nhiên, không mắc cỡ, không ngập ngừng. Nhưng tôi thì chịu, không bao giờ có thể gọi theo chúng nó, dù là nói thầm trong miệng cũng không dám. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy về phương diện ngôn ngữ, tôi nghèo nàn hơn đám bạn thôn quê của tôi rất nhiều, tôi đã bị ngăn cấm, cản trở từ mọi phía để giữ tư cách “con nhà” của gia đình.
Đó là mất hay là được ? Sự cấm đoán đó từ nhỏ đã tạo nên bản chất thứ hai trong người tôi, cho đến bây giờ dù trưởng thành đã lâu và đủ tư cách để có những quyết định cho chính mình, có những ranh giới tôi vẫn không thể vượt qua. Có phải nhờ thế tôi có lối nói lối viết thanh tao hơn, và do đó rất có thể là nhạt nhẽo hơn so với nhiều cây bút khác ? Sự thanh tao trong ngôn ngữ có nhất thiết biểu hiện sự thanh tao trong tâm hồn tôi không ? Tôi nghi ngờ lắm ! Nếu tôi tự cho phép mình nói và viết một cách bỗ bã thì liệu điều tôi viết có đạt đến một cái gì đó có giá trị hơn không ?
Nói chung, những người trẻ tuổi khi lớn lên trong xã hội, cả nam lẫn nữ đều bị những điều kiêng kỵ như thế cả. Nhất là phái nữ, sự cấm kỵ nặng nề hơn phái nam nhiều. Kết quả là luôn luôn, cái kề má say sưa vẫn là hình ảnh tuyệt vời với họ nhưng nhiều khi vẫn làm họ đỏ mặt một mình. Một sự cấm kỵ truyền kiếp đã ăn sâu vào căn tính chúng ta như một huyền bí ẩn giấu rất khó bạch hóa bình thường trong cuộc sống. Nhờ thế sự sống hấp dẫn hơn chăng, huyền nhiệm hơn chăng ? Có phải chính vì thế một vùng trong linh hồn lẫn thể xác của chúng ta vẫn là hoang vắng như một ngôi đền linh thiêng vốn ít ai dám bén mảng vào ? Và danh tính của nó khi con người ghé mắt nhìn vào thì đó là cõi Mê Hoang, vừa mê cuồng, say đắm, vừa hoang dã hoang vu, càng sợ càng dấn bước vào... 
Phút mê hoang chính là phút mà con người được giải phóng khỏi những cấm đoán o ép để sống thật với mình, sống thật với những vùng bấy lâu mình đã “bỏ hoang” chẳng cày xới. Tâm hồn sống với yêu đương, thể xác sống với đụng chạm, ôi những vùng đất hoang mới khai phá để thể nghiệm biết bao là say đắm, mình đang mê hay đang tỉnh đây ?
Hai chữ mê hoang nghe như có ma lực của một hoan lạc vượt khỏi các câu thúc kéo dài quá lâu. Con sâu đo nó đang cười con người đấy :
nó cười cuộc đời chỉ trong gang tấc
sao lại tiếc nhau một chút mê hoang
Trần Mộng Tú khuyến khích chúng ta nên thành thật hơn với chính chúng ta. Những kiêng kỵ truyền kiếp phải được thu hẹp lại để thưởng thức “chút mê hoang” của cuộc đời. “Sao lại tiếc nhau” như một lời trách móc về thái độ quá rụt rè đối với cuộc sống, “chút mê hoang” ấy như một chén rượu nồng và ấm và ngọt ngào, hãy ngửa cổ cạn đi để thể hiện đầy đủ chính ta trong cuộc nhân sinh này.
6 tháng 6, 2017

Tuesday, May 30, 2017

Sequoia and Yosemite 05/27/2017



T và D,

Đi ba ngày ngồi xe và lên núi vào rừng đối với anh bây giờ là việc nặng nhọc. Sáng nay mới thấy thấm mệt. 

Tuy vậy, khi đã vào với thiên nhiên nhiều lúc anh quên cả tuổi tác và sức khỏe. Những trạng thái "quên" như thế có thể rất có lợi và cũng có thể rất có hại.

Cách đây 20 năm khi mới qua Mỹ anh đã cùng vài người bạn vào Sequoia thuê cabin sống mấy ngày, đã khám phá tạm đầy đủ. Bây giờ vào lại thì thấy mình già hơn 20 tuổi, nhưng núi rừng sông suối thì vẫn vậy. Đối với một cây cổ thụ có số tuổi 1700 năm mà anh đã đối diện năm trước thì 20 năm đối với nó có là gì đâu, nhưng ở quãng cuối một đời người thì số năm ấy chẳng phải chuyện chơi. Đời người quả chẳng là bao, có phải vì thế mà người ta để ý đến phẩm chất của từng giây phút sống hay không?

Còn lần đi Yosemite đầu tiên là khoảng trước hay sau năm 2000 một hai năm, đi đóng trại và ở lại 5 đêm trong rừng. Thật ra là đi với gia đình Đỗ Anh Tài, các con của Tài đi cắm trại Hướng đạo, đã đóng riêng cho bố mẹ và hai bác Minh một cái lều to tướng có hai phòng ngủ, lần đó cũng khám phá đầy đủ Yosemite.

Lần này đi theo tour du lịch, một chiếc xe bus to tướng đầy nhóc người, thăm Sequoia ngày thứ bảy, Yosemite ngày chủ nhật. Đúng là chỉ cỡi ngựa xem hoa, nhất là long weekend, xe tràn ngập núi rừng, trễ nãi và chương trình phải thay đổi hết. 

Ấn tượng mạnh nhất mà anh cảm thấy trong lần này là các dòng suối, mà người ta gọi là river. Cuối tháng sáu là thời điểm từ các đỉnh núi tuyết tan nhiều nhất nên các dòng suối vô cùng sung mãn, nước đầy ắp cuồn cuộn chảy, gây cho lòng người, nhất là người Nam Cali quanh năm khô hạn, nhiều nỗi niềm xúc động sâu xa. Nó không hiền lành như suối của Văn Cao Suối mơ bên rừng thu vắng, dòng nước trôi lửng lờ ngoài nắng, nhưng nó mang tính chất nước nguồn vừa ở trong núi tuôn ra, thanh khiết, hùng dũng, ngây ngất.

Anh đã quay nhiều đoạn suối chảy, say mê lắm, hai chị em nghe thử nhé.


video

Một điều D mới nhắc rất đúng mà lần này anh mới để ý: đó là có những đoạn đường đèo xe chạy sát bờ vực sâu thăm thẳm không có bao lơn ngăn chặn, ngồi trên xe bus cao nhìn xuống anh cảm thấy thực sự sợ hãi, một cảm giác những lần đi trước không nhận thấy. Nếu xe sẩy bánh rơi xuống vực thì chắc chắn không có ai còn sống, vì chiều cao của vực có lẽ đến nhiều ngàn mét. Sợ, nhưng cũng là một cảm giác thú vị hiếm hoi lâu lâu mới có dịp nếm trải.

Đi chuyến này anh gặp ông John Muir của D nhiều lần, vì các câu ông viết về sự khám phá núi rừng được trích dẫn khá nhiều. Trong một gift shop trong rừng Sequoia anh thấy một câu của ông được in một cách trang trọng và bày bán cho du khách. Câu ấy khá đơn giản khi đọc qua anh tưởng là mình có thể nhớ được, nhưng sau đó thì quên, chỉ nhớ một mệnh đề chót đại khái: you must go there. There ở đây dĩ nhiên là núi rừng.

Friday, May 12, 2017

NHỮNG GÌ THẤY ĐƯỢC ‘TRONG ĐỐNG TRO TÀN’ CỦA TRẦN VĂN THỦY



  
Theo sự hiểu biết của tôi thì nhà văn, nhà đạo diễn điện ảnh Trần Văn Thủy là người đầu tiên sống trong xã hội Việt Nam đương thời đã đặt vấn đề Tử Tế bằng tác phẩm của mình. Cuốn phim tài liệu Chuyện Tử Tế của ông thực hiện năm 1985, được công bố ít năm sau đó, đã gây một chấn động trong lương tâm của con người, không những của người Việt Nam mà còn nhiều nơi trên thế giới.

Có chuyện gì vậy? Chuyện tử tế? Thì có gì lạ? Chẳng phải là từ khai thiên lập địa con người vẫn sống giữa cuộc tranh đấu giữa cái Thiện với cái Ác đó sao, một cuộc tranh đấu bất tận như tên của một cuốn phim Mỹ: From Here To Eternity -Từ đây cho đến mãi mãi về sau, được người Pháp chuyển dịch thành Tant qu’il y aura des hommes -Cho đến khi nào còn con người. Hai cái tên tiếng Anh và tiếng Pháp của cuốn phim nổi tiếng ấy đều cho thấy cuộc xung đột giữa cái tốt và cái xấu nó sẽ còn mãi mãi trong xã hội loài người, khiến người ta phải nghĩ một cách sâu xa hơn, là bản chất và mục tiêu đời sống của chúng ta chính là cố gắng đẩy lùi cái xấu để cái tốt được lên ngôi.

Nhưng nghĩ cũng lạ, cái trật tự tinh thần để phân biệt tốt xấu thì đã được con người xác định từ rất xa xưa, có lẽ ngay từ bản năng của sự sống: mạng sống là tốt, giết hại là xấu; thương yêu là tốt, thù hận là xấu; tự do thoải mái là tốt, gông cùm kiềm hãm là xấu; sáng kiến phát triển là tốt, hủ lậu trì trệ là xấu; no cơm ấm áo là tốt, đói rét là xấu... Những cặp tốt xấu như thế có thể kể ra vô tận, cho thấy thân phận của con người thật ra rất chênh vênh, nhưng kinh nghiệm sống và sự thăng hoa tinh thần của con người trong quá trình “thành người” của mình đã khẳng định phía nào nên theo, cái gì nên loại bỏ. Ý thức đó tạo nên ĐẠO LÝ chung cho cuộc sống của con người đông tây kim cổ.

Chuyện con người sống tử tế với con người và vạn vật chẳng qua cũng chỉ nằm trong Đạo Lý ấy mà thôi, nhưng sở dĩ có người như Trần Văn Thủy phải làm phim để đặt ra như một vấn nạn trước lương tâm con người, là vì cuộc sống trong cơ chế đang ngự trị trên đất nước Việt Nam xem ra thiếu vắng sự Tốt lành mà ngược lại, nghiêng về phía cái Ác. Đây không phải là chuyện tốt xấu trong một xã hội bình thường, mà là kết quả của một chế độ khác thường. Vì thế nguy cơ của cái Ác trở thành một khuynh hướng đè bẹp cái Thiện ngày càng rõ rệt, và đã trở thành một nguy cơ cho đất nước và dân tộc Việt Nam.

Phim Chuyện Tử Tế ra đời năm 1985, tính năm nay 2016 đã là 31 năm, vậy hành trình của nó và của tác giả làm nên nó, hiện đã tới đâu rồi? Câu chuyện nó vượt biên một cách bí mật để đến được Liên Hoan Phim Leipzig Đông Đức cuối năm 1988 có thể dựng thành một cuốn phim trinh thám nghẹt thở. Và sau khi nó chiếu và được nhiệt liệt hoan nghênh tại liên hoan này thì tới phiên tác giả của nó lập tức “vượt biên” sang Pháp ngay trong đêm đó, cũng nghẹt thở không kém. Khi đã đến Pháp, tác giả của nó mới biết Chuyện Tử Tế đã được giải thưởng Bồ Câu Bạc ở liên hoan phim Leipzig. Rồi nó được chiếu trong rạp hát và đài truyền hình Pháp. Rồi nhiều nước khác đã mua phim Chuyện Tử Tế...

Đạo diễn Trần Văn Thủy vào thời điểm tham dự liên hoan phim Chuyện Tử Tế đã đứng trước một đường ranh giới rất mong manh, hoặc nó đoạt được giải thì ông là người có công, được quay về Việt Nam an toàn, hoặc nó không gặt hái được gì cả thì ông bắt buộc phải chọn con đường lưu vong tại Tây Âu.

Nhưng sự tử tế đã mỉm cười với ông, và hôm nay đạo diễn Trần Văn Thủy, ở tuổi 76, và đã đúc kết mọi chuyện với cuốn sách Chuyện Nghề Của Thủy và cuốn Trong Đống Tro Tàn mà độc giả đang cầm trên tay. Hình ảnh “đống tro tàn” mà tác giả gợi ra nó như thế nào là tùy cách nhìn của người đọc, nhưng với tác giả, thì tôi đoán cái tên đó phần nào cũng là tổng kết cái hành trình mà ông đã đi suốt nửa thế kỷ qua, tròn 50 năm (1966-2016). Chưa hẳn nó có ý nghĩa tiêu cực như khi chúng ta đứng trước một căn nhà đã bị thiêu rụi, mọi thứ đã thành tro, mà chỉ là tổng kết thời gian gần cả đời người với nhiều nỗi truân chuyên gay cấn liên tục với một chủ đề gần như duy nhất: sự tử tế. Đống tro tàn chỉ là một cách nói, có thể là một ám chỉ rằng trong cái đám ngổn ngang đó vẫn còn sót lại một vài tàn lửa sẽ làm bùng lên ngọn lửa của cái Thiện.

Nhưng có một điều chắc chắn, trong đống mà tác giả gọi là tro tàn này chứa đựng một tấm lòng hừng hực nóng, qua các câu chuyện đời của tác giả. Có nhiều chuyện được kể lại, xem qua thì là những chuyện vui buồn, những kỷ niệm trong đời, nhưng tất cả hầu như chỉ một chủ đề, đó là sự thăng hoa tốt đẹp của bản chất con người, mà các tôn giáo lớn từ hàng ngàn năm trước đã nhìn ra và dẫn dắt nhân loại.
Đây có thể là tác phẩm văn học cuối cùng của ông, vì có cả lời trăng trối căn dặn mọi chuyện sau khi ông qua đời. Trong Mấy Lời Gửi Lại, xem như là Di Chúc của ông, sau những dặn dò cụ thể liên quan đến tang lễ và việc gia đình, gia tộc, ở phần cuối ông viết:
“Hình như trên đời này chẳng có mấy ai khi nhắm mắt xuôi tay lại không nuối tiếc việc nọ, việc kia. Phần tôi, tự xét mình là thường dân nhưng đã cố gắng trong mọi hoàn cảnh, mọi bổn phận. Sức của tôi có hạn, tôi chỉ thương xót cho bọn trẻ, con cháu tôi và con cháu chúng ta. Chúng thừa hưởng một gia tài quá bề bộn của tiền nhân để lại. Không dễ gì để chúng có được một cuộc sống hạnh phúc đúng nghĩa mà thế hệ chúng ta hằng mơ ước cho chúng.

Dẫu sao, tôi xin chân thành cầu chúc cho mọi người được sống trong niềm vui, trong an bình và sự thanh thản của một xã hội lương thiện, tử tế hơn”.

Điều ông nuối tiếc là ở chỗ lớp con cháu sẽ không được sống hạnh phúc đúng nghĩa mà thế hệ ông hằng mong ước, nghĩa là sống trong một “xã hội lương thiện, tử tế hơn”. Một chữ “hơn” đầy ý nghĩa, nói lên thực tại đáng buồn của xã hội Việt Nam trong hiện tại.

Chương 2, Cha Tôi, là một bài viết mà tôi cho quan trọng nhất trong tập sách này. Kể lại cuộc đời cha mình, ông đã ghi rõ “tưởng nhớ về Thầy - người Cha đẻ và là người Cha tinh thần của con” cho thấy cái nhìn đầy yêu mến và khâm phục của ông về thân phụ của mình, mà theo tôi, ông coi là một mẫu mực, một tấm gương cho suốt cuộc đời của ông.

Có một câu nói của thân phụ ông mà suốt đời ông không quên, đó là câu thân phụ ông thốt ra một cách bình tĩnh sau khi chứng kiến cảnh người bạn thân của mình (bác Phó Mâu) đã bị bắn chết trong cuộc đấu tố:

“Sau hôm về chợ Cồn để chôn cất bác Phó Mâu, Thầy tôi lên gác nằm. Một lát sau ông cho gọi tôi và Lai, người em sát tôi lên. Hai chúng tôi ngồi chờ bố bảo gì. Ông vẫn nằm vắt tay lên trán, im lặng. Không hiểu sao những lúc Thầy tôi im lặng như thế tôi rất sợ, tôi lên tiếng rất khẽ:
- Thầy bảo gì chúng con ạ?
Một lát sau ông mới thủng thẳng nói một câu rất ngắn: - Hỏng - hẳn - rồi - các - con ạ!
Tôi không hiểu. Lúc đó tôi hoàn toàn không hiểu. Tôi hỏi lại:
- Thầy bảo gì cơ ạ?
- Thầy và bác Phó Mâu đã giúp Việt Minh quá nhiều, bây giờ bác chết oan, Thầy không còn tin vào cái gì nữa!
Trong cuộc đời, tôi rất nhớ những điều Thầy tôi đã nói với tôi. Đây không phải là lúc kể ra tất cả, nhưng cái câu đau đớn, bất đắc chí: " Hỏng - hẳn - rồi - các - con ạ"! Thì chắc chắn xuống mồ tôi cũng không thể nào quên được”.
Kể ra một người trong tuổi thiếu niên mà được nhận lãnh một câu nói như thế từ cha của mình trong một hoàn cảnh đặc biệt của đất nước thì cũng khó mà quên được. “Hỏng-hẳn-rồi-các-con-ạ” là một khẳng định khái quát cả một sự sụp đổ toàn diện trong tâm hồn người cha, truyền lại cho các con mình nhận thức về tương lai của cái chế độ mà họ đang sống trong đó với biết bao kỳ vọng chế độ đó sẽ mở ra một thời kỳ tốt đẹp cho đất nước. “Hỏng hẳn rồi” đã ghi một dấu ấn quan trọng nhất trong lòng tác giả khi mới lớn, để suốt đời ông luôn để tâm nhìn thấy nó hỏng ở chỗ nào, và định hướng các hành vi của ông để lên tiếng cảnh báo cho mọi người về cái nguy cơ vô cùng thảm khốc cho cả một dân tộc.

Trong cuốn sách mà có vẻ tác giả cho là cuối cùng này của mình, chúng tôi nghĩ chương Cha Tôi là nơi Trần Văn Thủy khẳng định điều tâm huyết nhất trong đời mình, đó là nét Đạo Lý mà cha ông đã truyền cho ông. Đạo Lý ấy cha ông đã tiếp nhận từ truyền thống của dân tộc Việt Nam, nó cũng không khác với Đạo Lý chung của nhân loại đã có từ ngàn đời.

Trần Văn Thủy thì quan tâm và suy nghĩ rất nhiều về vấn đề nền tảng ấy trong các chương khác trong cuốn sách này. Ông vốn là người làm phim tài liệu, luôn luôn ghi nhận và viết xuống những đề tài mà ông cho là đáng làm phim trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của ông, nhưng tiếc thay không mấy dự định của ông đã được thực hiện. Chương “Những kịch bản không thành phim” ông ghi lại nội dung những đứa con điện ảnh không bao giờ được ra đời ấy, với những nhận xét có khi nhiều phẫn nộ.

Ví dụ từ năm 1980 ông đã có một kịch bản về Trịnh Công Sơn:

“Một kịch bản khác tôi tâm đắc vô cùng đó là khi tôi viết về Trịnh Công Sơn năm 1980. Có lẽ khi ấy vừa ở Nga về, vừa làm xong bộ phim "Phản bội" nổi tiếng (1979 - 1980), đang "hăng tiết vịt", tôi đã viết về Trịnh Công Sơn. Tôi kể những ngày tháng nằm hầm ở chiến trường miền Nam (1966 - 1969), mở trộm đài Sài Gòn, nghe nhạc Trịnh mà nổi da gà. Những Đại bác đêm đêm vọng về thành phố/Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe/Những Người con gái Việt Nam da vàng… Con người miền Nam, hơi thở miền Nam, nhạc Trịnh ám ảnh tôi. Sao lại yêu thương đến thế! Sao lại da diết lay động đến thế! Vấn đề tôi đặt ra trong kịch bản đó không chỉ là những giai điệu, những ca từ hút hồn của nhạc Trịnh mà tôi tự vấn: Mảnh đất nào, văn hóa nào, phẩm hạnh nào đã nuôi dưỡng một tâm hồn trong sáng và chân thiện đến thế, đã sản sinh ra con người chân tình đến thế? Nếu như Karl Marx nói: "Con người là sản phẩm của tổng hòa mọi quan hệ xã hội" thì cái xã hội miền Nam đầy rẫy những "Tội ác và tàn dư của Mỹ Ngụy" ấy tại sao lại sản sinh ra Trịnh Công Sơn?”
Ba mươi năm sau khi làm phim Chuyện Tử Tế để kêu gọi lòng tử tế trong xã hội mình đang sống, đạo diễn Trần Văn Thủy cay đắng nhận ra mình vẫn sống trong xã hội ấy, nhưng:

“Ngày nay trong một chế độ nhân danh sự ưu việt, người ta lại thấy bao điều xót xa trong quan hệ giữa người với người. Tham nhũng, bè phái, cửa quyền. Đạo đức xuống cấp một cách khủng khiếp.” ...
“Ai cũng biết rằng tòa án và pháp luật chỉ làm công việc giải quyết hậu quả của hành động. Còn muốn ngăn chặn cái mầm gây ra tội ác, làm nó triệt tiêu khi còn trong trứng, triệt tiêu ngay trong ý nghĩ của con người, thì không gì bằng tôn giáo” (...) “tôn giáo nói chung, cái đạo chân chính nào cũng khuyên con người nghĩ thiện, làm thiện, tránh xa tội lỗi, xa điều độc ác. Và như vậy nó góp phần tích cực vào việc giữ gìn đạo đức, trật tự an ninh xã hội, làm cho đất nước lành mạnh”.

Mỗi một chương của cuốn sách này là một câu chuyện hay, có thể nói là hấp dẫn, nhưng luôn luôn ẩn nỗi cảm động, thấm thía và rất lôi cuốn người đọc. Tác giả quan sát rất tinh tế về các nhân vật mình quen biết, các sự kiện vui buồn xảy ra với mình, nhưng khi kể ra thì chuyện nào cũng đáng là một bài học cho người đọc, bài học về nhân cách, về thái độ sống ở đời với một chủ đề bất biến là tích cực nhấn mạnh về sự tử tế, lòng nhân ái.

Tác giả có sự quan hệ rất rộng rãi, đề tài viết có thể là về giới làm phim Nhật Bản, hoặc những người Mỹ hoạt động văn hóa và nhân đạo; về việc thực hiện một cuốn phim tài liệu về nhà thờ Phát Diệm với kiến trúc tôn giáo độc đáo; về một người thầy thuốc hiếm có về bệnh phong cùi, Bác sĩ Trần Hữu Ngoạn, mà khi đọc xong câu chuyện của ông, độc giả chỉ có thể thốt lên: đó là một bậc Thánh, hoặc là một Bồ Tát; về nhạc sĩ Phạm Duy là người ông rất hâm mộ từ thời còn rất trẻ...

Với con mắt quan sát tinh nhạy của một đạo diễn phim tài liệu cộng với một tấm lòng đề cao cái Thiện và chống lại cái Ác, và cộng thêm nữa sự sắc sảo tinh quái của một người sống trong sự kềm cặp mà lúc nào cũng khao khát xé rào để rao giảng những điều chẳng phù hợp chút nào với đường lối của xã hội đương thời, Trần Văn Thủy rất xứng đáng với câu nhận xét sau đây của Larry Berman, một nhà văn Mỹ:

“... on a war that ravaged so many, yet left us with survivors like Tran Van Thuy, war photographer, filmmaker and ultimately philosopher.”
“... về một cuộc chiến đã hủy hoại biết bao sinh mạng, nhưng đã để lại cho chúng ta những người sống sót như Trần Văn Thủy, một nhà quay phim thời chiến, một đạo diễn điện ảnh, và cuối cùng là một triết gia.”
[Trích từ lời Tựa trong bản dịch sang Anh ngữ cuốn tự truyện Trong Mắt Ai (In Whose Eyes) của Trần Văn Thủy]

Nhìn cuộc sống ở một xã hội mà ông phải sống và rút ra từ đấy những nhận xét, những phán đoán, thẩm định nhằm phá vỡ hàng rào dây thép gai ý thức hệ quái đản trong thời đại của chúng ta, thì ngoài vai trò nghề nghiệp, đúng Trần Văn Thủy còn là một triết gia, một triết gia dấn thân với những tác phẩm văn học nghệ thuật rất can đảm và hết sức sâu sắc của ông.

Chẳng hạn, nếu chúng ta được xem phim Chuyện Tử Tế, hoặc ít ra được xem kịch bản của phim do chính đạo diễn viết, chúng ta sẽ thấy lời bình trong phim quan hệ tới mức độ nào. Không có lời bình thì chỉ là một phim câm, cái đó đã hẳn, nhưng điều quan trọng, đó là lời bình do Trần Văn Thủy viết. Lời ấy là linh hồn của phim. Đó là những lời gãy gọn dễ hiểu nhưng mang khả năng khái quát rất cao - xem/nghe tới đâu thấm thía tới đó, và đặc biệt là nó có khả năng dẫn dắt người xem hiểu ra ngoài, vượt lên trên những gì đang xem. Như thế, lời bình đã chứa đựng triết lý của sự việc, sự vật, nâng chúng lên một tầng phổ quát.

Cách đây hơn mười năm Trần Văn Thủy đã xuất bản cuốn sách có nhan đề Nếu Đi Hết Biển, nêu lên một thắc mắc vừa cụ thể vừa siêu hình: nếu đi hết biển thì sẽ tới đâu? Thoạt đầu với khái niệm trái đất tròn, tác giả cho rằng “nếu đi hết biển, qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi thì cuối cùng lại trở về quê mình, làng mình”. Nhưng nhiều năm sau, khi tác giả đã đi đến đất Mỹ thì mới thấy rằng người Việt xa xứ “qua các đại dương và các châu lục, đi mãi, đi mãi” mà cuối cùng không thể “trở về quê mình, làng mình” được.

Cuốn sách mới nhất Trong Đống Tro Tàn này cho chúng ta cảm tưởng tác giả không còn điều thắc mắc ấy nữa. Con đường địa lý của quả địa cầu dù trên mặt đất hay mặt biển thì rất rõ ràng, đi mãi thì có thể trở về nơi mình xuất phát. Nhưng con đường của lòng người, với bao nhiêu thứ hệ lụy của cuộc sống thì không thể vạch một lộ trình đơn giản nào. Tâm trạng và mục tiêu của người Việt Nam khi dong thuyền ra khơi để làm một chuyến vượt biên không lãng mạn tự hỏi đi hết biển thì sẽ đến đâu, mà là nhắm tới một bến bờ cụ thể nào đó mình có thể sống được một đời sống tự do, xứng đáng là của một con người. Nhưng một khi cuộc sống đã ổn định trên miền đất mới, thì chắc chắn con đường quay về quê cũ trong lòng họ vẫn còn, dưới rất nhiều dạng: chính trị, kinh tế, tình cảm... hoặc lắm khi chỉ là một giấc mơ về một đất nước tốt đẹp hơn, đáng sống hơn.

Nhưng đâu phải chỉ có con đường cụ thể với hai hướng đi và về nó ràng buộc chúng ta. Trong lòng bất cứ ai cũng có thể mở ra vô số con đường sẽ dẫn đến vô số nơi mà chính trong tác phẩm Trong Đống Tro Tàn tác giả luôn luôn đề cập tới: con đường của lòng tử tế, của sự nhân ái. Con đường tình người rộng rãi thênh thang...

Nhạc sĩ Phạm Duy khi viết câu kết cho trường ca Con Đường Cái Quan của ông, đã mô tả cảm nhận của người Việt Nam khi đã hoàn tất cuộc Nam Tiến của mình tại Mũi Cà Mau:

Đường đi đã tới ! Lòng dân đã nối !
Người tạm dừng bước chân vui ! Người ơi !
Người mơ ước tới : đường tan ranh giới
Để người được mãi
Đi trong một duyên tình dài.
Con đường thế giới xa xôi,
Trong lòng dân chúng nơi nơi.

Phải chăng khi viết những câu này vào năm 1960, Phạm Duy đã có tiên cảm về “con đường thế giới xa xôi” mà người Việt Nam sẽ dấn bước vào, và sau này đã gây thắc mắc về một bờ bến nơi Trần Văn Thủy? Nhưng Phạm Duy cũng thấy ra niềm vui trong “một duyên tình dài”, phải chăng đó là tình của nhân loại, của sự Tử Tế, của lòng Nhân Ái mà Trần Văn Thủy thao thức và vận động suốt đời ông để mong cho nó thắng cái xấu và cái ác?

Nam California ngày 01 tháng Mười Một, 2016.

Phạm Phú Minh



Điện thư của đạo diễn Trần Văn Thủy gửi Phạm Phú Minh ngày 12 tháng 5, 2017

Anh Phạm Phú Minh thân quý !

Anh có khỏe không ? Mọi việc vẫn bình an đấy chứ ? Bao giờ anh có ý định về Việt Nam ?
Tùy hứng thú và hoàn cảnh của anh thôi.
Xứ sở này niềm vui thì ít, nỗi buồn thì nhiều.

Các cháu giúp tôi, mới chuyển về được 80 cuốn TĐTTàn, tôi đã phân phát cho bằng hữu (Saigon, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, Hải Phòng, Hà Nội) hết sạch. Ở Sài Gòn nhiều người đã đọc do thân nhân ở Mỹ gửi về.

Tôi muốn nói với Anh rằng : Mọi người đều rất có thiện cảm với anh qua bài viết của Anh. Họ thấy rằng Anh là người có tấm lòng rộng mở, hiền hòa, một sự hiểu biết sâu sắc và hết sức chân tình. Chưa có người nào không cảm thấy hứng thú khi đọc bài của Anh. Họ so sánh bài của anh thì lịch lãm là vậy, bên cạnh LỜI MỞ của tôi thì bổ báng và cay độc quá chừng... (Tôi có nói với mấy người thân rằng : sau 1975 ông ta đã đi tù CS 13 năm rồi đó).

Rất mừng là Đinh Quang Anh Thái đã sáng suốt mời Anh giúp đỡ. Tôi vô cùng cảm kích về sự hỗ trợ, cảm thông của Anh, của ĐQAThái, cháu NPhương và những cộng sự khi cho ra đời cuốn sách nhỏ mọn của tôi. Đó chắc là những kỷ niệm, những hành trang hữu ích đối với tôi ở cuối cuộc đời này.

Cầu chúc Anh cùng những người thân yêu của Anh luôn mạnh giỏi, nhiều niềm vui cùng vạn sự An Lành !
Một lần nữa cám ơn Anh !

TVThủy

Thư trả lời của Phạm Phú Minh, cùng ngày :


Anh Trần Văn Thủy thân mến,

Được thư anh, tôi vừa cảm động vừa sung sướng. Theo như mô tả của anh về phản ứng của người đọc sách trong nước thì bài viết của tôi cũng tạm làm trọn nhiệm vụ giới thiệu của nó. Như thế là tôi mừng lắm rồi !

Nhưng anh Thủy ơi, cái được giới thiệu mới là quan trọng, đó là cái khẳng định phẩm chất của lời giới thiệu. Nói cách khác, tôi chỉ là tấm gương phản chiếu ánh sáng của anh mà thôi. Lấy một hình tượng cụ thể, tôi là mặt trăng phản chiếu một thứ ánh sáng hiền lành xuống mặt đất sau khi nhận được ánh sáng rực rỡ dữ dội từ mặt trời Trần Văn Thủy. Chỉ là một hình tượng để ví dụ thôi, không phải tâng bốc nhau, nhưng trong đó hàm chứa sự thật : người giới thiệu chỉ thuần túy làm công việc phản chiếu lại những gì nhận được, dĩ nhiên qua lăng kính của mình. 

Cái lăng kính ấy, tôi nghĩ, phải chứa nhiều tính chất "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" với nguồn sáng nó nhận được thì mới phát ra được sự phản chiếu trung thực. Đó là cái duyên gặp gỡ giữa hai tâm hồn chúng ta vậy. Tôi phải cám ơn anh, cám ơn cái duyên đưa đẩy để tôi được hân hạnh viết những gì từ anh : đó là cái duyên thật lành.

Trên đời không có gì quý hơn cái duyên lành đó anh ạ. Muốn có được cái duyên đó, trước hết chúng ta đều cùng phải có cái tâm lành đã, và đó chính là nguồn gốc của sự "đồng thanh tương ứng" vậy.

Thân mến cùng anh Thủy.

Phạm Phú Minh