Wednesday, June 2, 2021

Vài ấn tượng về Đi, Đọc và Viết của Phạm Xuân Đài / BÙI VĨNH PHÚC

  

Anh Minh thân,

Mấy ngày qua, tạm gạt bỏ những sách vở và tài liệu khác, tôi đã hạnh phúc đọc quyển sách của anh. Ngồi ở vườn sau, trong nắng, nhẩn nha đọc những suy nghĩ anh dàn trải về cuộc sống và con người, thật thích.  Không viết được dài, nhưng xin gửi anh một vài ấn tượng rõ rệt nhất (trong attachment file) mà tôi có được sau khi đọc anh.  Cám ơn anh vì một quyển sách hay. 

Thân, 

bvp


Vài ấn tượng về Đi, Đọc và Viết của Phạm Xuân Đài

 Tác giả, trong phần Lời Nói Đầu của quyển Đi, Đọc và Viết, có cho biết mình là một nhà báo, chứ không phải là một nhà văn. Điều này, tôi nghĩ, có chỗ đúng và có chỗ không đúng.  Đúng, Phạm Xuân Đài là một nhà báo. Trong những bài viết của mình, ông luôn có một cái nhìn tinh tế, sắc nét, nắm bắt được sự vật, sự việc một cách tinh sắc, bằng cái cảm quan nhạy bén và phương pháp làm việc, quan sát, tiếp cận vấn đề của mình. Như một nhà báo. Một nhà báo có bản lĩnh và giàu kinh nghiệm.

 

Nhưng tác giả đã sai, ít nhất trong cảm nhận của tôi, ở chỗ ông đã nghĩ, đã tự cho mình không phải là một nhà văn. Phạm Xuân Đài, trong cung cách biểu lộ, bày tỏ tâm tư, suy nghĩ của mình, qua chữ viết và cách diễn ý, đã cho thấy ông là một nhà văn. Cách ông tiếp cận, sắp xếp và khai triển vấn đề của mình, cách ông trình hiện cuộc đời, những suy nghĩ phức tạp về đời sống, về những hoàn cảnh sống, về tâm hồn chúng ta, về con người, về lịch sử, về quê hương, về kỷ niệm, v.v., có thể cho người đọc thấy được điều này. Qua những đường rẽ, khúc ngoặt, và lối “nhồi bóng”, “đưa bóng” thần tình, ông làm hiển lộ các vấn đề mà ông muốn nhắm tới, nhiều lúc, ở những “điểm chặn” bất ngờ. Làm vấn đề được phát sáng, hốt nhiên, bằng một vài câu viết, một vài nhận xét thần tình và tinh tế. Điều này cho thấy con người, những quan hệ của nó trong cuộc sống, sự hoà ái, trái tim cùng hơi nóng và chất lửa trong nó, làm cho con người sống xứng đáng cái thân phận đáng hãnh diện là con người của mình, luôn là quan tâm của ông. Của một nhà văn.

 

Tôi yêu cái hơi ấm, cái ngọn lửa mềm mại, luôn cháy đỏ trong chữ nghĩa của Phạm Xuân Đài. Nó làm những câu văn của tác giả, dù gần như luôn mang cái chủ âm trầm, chậm, thanh và giản, lúc nào cũng cháy ngầm trong sự từ tốn ấy cái thiết tha của một bếp lửa đầy hơi ấm nhân quần. Những đoá hoa lửa ngọt, đằm và mềm dịu ấy không thôi phát sáng qua những trang văn của ông. Con người nhà văn của Phạm Xuân Đài, một phần lớn, cũng nằm chính ở điểm ấy.

 

bùi vĩnh phúc

Wednesday, May 19, 2021

TÌNH BẠN LÂU NĂM

Phạm Phú Minh

Tôi không ngạc nhiên lắm khi nghe tin Bé Ký qua đời. Khoảng vài mươi năm qua tuần nào tôi cũng gặp Hồ Thành Đức tại quán cà phê, và thỉnh thoảng cũng ghé nhà thăm hai ông bà. Những năm gần đây tôi thấy Bé Ký sức khỏe ngày một kém dần. Thì cũng cho là chuyện bình thường thôi, tất cả chúng tôi ai cũng ngày một già, và yếu đi.

      


                                          Họa sĩ Bé Ký                                        



  Bé Ký 1959 (21 tuổi)

Năm 1966, tôi làm việc với Chương Trình Phát Triển Thanh Niên Học Đường (CPS) có trụ sở tại những dãy nhà tiền chế trên nền Khám Lớn Sài Gòn cũ. Ít lâu sau Hội Họa Sĩ Trẻ được thành lập cũng có trụ sở trên miếng đất rất rộng rãi này. Là láng giềng của nhau, tôi có dịp quen biết với nhiều “họa sĩ trẻ” mà trước kia chỉ mới nghe tên, trong đó có Hồ Thành Đức, trở nên khá thân nhau vì cùng đồng hương Quảng Nam.

Vì không thể “thanh niên” và “trẻ” mãi, năm bảy năm sau chúng tôi lập gia đình và rời mảnh đất trẻ trung ấy. Gia đình Hồ Thành Đức và gia đình tôi lại có dịp ở gần nhau, tôi trong hẻm 220 đường Trương Minh Giảng (bên cạnh đại học Vạn Hạnh), còn Hồ Thành Đức-Bé Ký thì trong một hẻm bên đường Trần Quang Diệu, chỉ cần lội quanh co trong xóm một lúc là đến nhà nhau. Ngày cuối tuần bạn bè thường tụ họp tại nhà tôi, Đức với tôi và vài ba người bạn nữa gầy một sòng phé còm, trong khi Bé Ký thì trò chuyện, có khi nấu nướng với bà xã tôi và bồng bế chơi đùa với hai đứa con nhỏ của tôi. Bé Ký yêu trẻ con lắm.

                   


Khoảng năm 1972, nhà thơ Thành Tôn từ Đà Nẵng vào Sài Gòn và tìm tới thăm nhà Hồ Thành Đức-Bé Ký. Nghe tiếng nhau từ lâu mà chưa gặp mặt lần nào, Hồ Thành Đức mời Thành Tôn tối hôm đó tới nhà mình ăn tối để chuyện vãn nhiều hơn. Buổi tối Thành Tôn tới nhà thì Đức… đi vắng. Bé Ký mời Thành Tôn vào nhà,  chỉ trên bàn có một mâm cơm dọn sẵn và mời Thành Tôn dùng bữa… một mình, nói rằng Đức xin lỗi vì tối hôm đó có một buổi họp với nhóm hội họa mà buổi sáng khi hẹn với Thành Tôn chàng đã quên bẵng. Trước tình thế “éo le” như thế, cuối cùng Thành Tôn phải ngồi vào bàn dùng bữa cơm một mình, với Bé Ký ngồi trò chuyện với tất cả chân tình, mộc mạc, đơn giản. Sau này Thành Tôn còn nhớ mãi món cá kho tộ “ngon tuyệt” do đầu bếp Bé Ký khoản đãi.

Nghệ danh Bé Ký do đâu mà có ? Hồ Thành Đức có lần kể : tên của bà ấy là Nguyễn Thị Bé. Từ nhỏ đã ôm tranh đi bán dạo trên đường phố nhưng không ghi tên tác giả. Nhiều người mua không chịu, nói đã vẽ tranh thì tác giả phải ký tên vào tranh chứ. Tác giả bèn viết chữ “Bé ký” ngụ ý tác giả tên là Bé và đã ký rồi đấy. Riết rồi chữ Ký được viết hoa, và Bé Ký thành tên luôn !

Biến cố 1975 làm tan tác xã hội miền Nam. Kẻ đi tù, người di tản, rồi kinh tế mới, rồi vượt biên… nhưng gia đình Hồ Thành Đức-Bé Ký yên ổn, cho mãi đến chuyến đi Mỹ chính thức của họ vào năm 1989. Qua thập niên 1990 đám bạn bè chúng tôi lại lần lượt gặp nhau gần như đầy đủ tại Little Saigon, nam California. Khác với phần đông bạn bè khi tới đất mới ai cũng lo kiếm công việc làm để sống, đôi nghệ sĩ bạn của chúng tôi chỉ “làm việc” tại nhà : họ tiếp tục vẽ tranh, triển lãm và bán tranh, trong khi các con lo đi học để xây dựng tương lai cho mình.

Mỗi khi phải đối diện với những việc quá rối rắm trong đời, tôi thường nhìn vào tranh Bé Ký để lấy lại bình tĩnh. Những đường nét ấy chân thật quá, đơn sơ quá nhưng cũng rất vững chắc, như nhắc tôi rằng, bản chất mọi sự trên đời thực ra tự nó cũng đơn sơ thôi, đừng gây thêm rắc rối làm gì. Đúng vậy, Bé Ký ghi lại trong tranh của mình nét tinh túy của sự vật, mà chỉ con mắt của chị mới nhìn thấy, chỉ bàn tay của chị mới ghi lại được. Hội họa Bé Ký chính là hình ảnh cái thật, qua nét vẽ đơn sơ mà điêu luyện.

Hai cô con gái của tôi, mà trước kia còn nhỏ ở Việt Nam đã được bác Bé Ký nâng niu ẵm bồng, sau này lớn lên ở hải ngoại cũng mê tranh của họa sĩ Bé Ký lắm. Xuân Đài ở Paris mỗi khi cùng chồng con qua California thăm chúng tôi đều nhờ tôi đưa đến thăm hai bác Hồ Thành Đức và Bé Ký, và lần nào cũng xin thỉnh vài bức tranh Bé Ký mang về Pháp.

Năm 1996 tôi và bà xã sau bốn năm cư ngụ trên đất Mỹ theo lối “share phòng”, đã mua được cái nhà mobile home. Đôi bạn nghệ sĩ Hồ Thành Đức-Bé Ký đã tặng mừng nhà mới chúng tôi một bức tranh lớn vẽ hoa hướng dương của Hồ Thành Đức. Một món quà quý giá mà chúng tôi còn giữ mãi, nó mang lại sự tươi sáng và không khí nghệ thuật cho ngôi nhà, cho đến bây giờ dù tôi đã có nhiều tác phẩm nghệ thuật khác, bức hoa hướng dương của Hồ Thành Đức vẫn luôn luôn giữ một vị trí cố định như lúc ban đầu.

 

               


Bức tranh hoa hướng dương Hồ Thành Đức-Bé Ký mừng nhà mới chúng tôi

 

Cũng vào năm 1996, một hôm Bé Ký đề nghị vẽ chân dung cho tôi. Tôi mừng lắm, vì biết đây là một hân hạnh lớn cho tôi, và tôi cũng biết Bé Ký không mấy khi vẽ chân dung cho ai. Tôi xin mấy cái hẹn đến nhà ngồi làm mẫu, Bé Ký nói không cần, chỉ cần đưa cho họa sĩ một tấm hình mà tôi vừa ý là đủ. Với tấm hình mẫu đó, Bé Ký đã vẽ cho tôi ba bức chân dung. Một cô em của tôi đã dụng công ghép cả ba bức vào một cái khung để thành một bức “tranh chân dung” điện tử, như sau :


Tình bạn của đôi nghệ sĩ Hồ Thành Đức – Bé Ký với tôi đã trải qua hơn nửa thế kỷ. Đó là một tình bạn “rất là Bé Ký”, nghĩa là đơn giản, mộc mạc và vô cùng chân thành. Bây giờ chúng tôi đang bước vào một giai đoạn mới, là bắt đầu chia tay nhau trên trần gian này. Tôi cùng tuổi với Bé Ký, sinh năm Mậu Dần, 1938. Bạn xung phong ra đi trước, tôi chúc bạn một chuyến đi đầy thanh thản như bản tính của bạn. Và hẹn sẽ có duyên gặp lại nhau một thời gian nào đó, ở một cõi nào đó mà bây giờ tôi cũng chưa biết rõ.

Westminster 15 tháng 5, 2021.

Phạm Phú Minh

 

Friday, June 7, 2019

Kể em nghe chuyện Tết Đoan Ngọ ở làng Đông Bàn



Hồi nhỏ anh sống ở làng Đông Bàn, đến ngày 5 tháng Năm, đúng ngọ mấy anh em đi "hái lá mồng Năm", mang về phơi khô để "làm thuốc". Dĩ nhiên chỉ hái những loại lá uống được, như lá ổi, lá tre, lá mít... 
Trong vườn nhà anh có một cây anh nghe người lớn gọi là cây "chè the", đến mùa nó ra trái nhỏ bằng đầu ngón tay khi chín đỏ bỏ vào miệng cắn ra nghe ngòn ngọt, nhưng chỉ một tí vị ngọt bao quanh một cái hột rất lớn. Mãi khi lớn lên anh mới khám phá ra đó là cây cà phê, không biết ai trong gia đình đã mang về trồng từ thời bà nội anh còn sống. Lá của nó có "vị thuốc", nấu uống chữa sình bụng. Khi biết đó là cà phê, anh hái trái chín phơi khô rồi rang, xay uống rất ngon.
Về bữa ăn ngày Tết Đoan Ngọ, anh nhớ vẫn bình thường không có gì đặc biệt ngoài rất nhiều bánh ú tro chấm với đường. Bánh làm tại nhà, nếp phải ngâm với nước tro rồi mới gói và nấu, khi ăn có vị the the trên lưỡi. Nhưng vẫn có cúng chè xôi, lúc nhỏ ăn cái gì cũng ngon cả.

Bây giờ nhớ lại "Tết" đoan ngọ, dĩ nhiên nhớ đến bánh ú tro với vị the the, nhưng anh vẫn nhớ nhất cái màn đi hái lá giữa trưa nắng chang chang, hồi đó anh thấy vừa vui vừa kỳ bí. Những gì hái được (dĩ nhiên không thể thiếu lá "chè the" --phiên âm một cách tài tình từ chữ cà phê, để biến thành một thứ "chè"), được đem phơi khô rồi cho vào một cái bao, cất đi, để khi cần chữa những  chứng về đường tiêu hóa thì mang ra nấu uống./.

ppm

On Jun 7, 2019, at 12:32 PM, (05 /05/2019 Kỷ Hợi)

Tú thì nhớ sáng ngày Đoan Ngọ, thay vì ăn điểm tâm trước khi đi học hàng ngày với bánh mì chấm sữa đặc (hiệu Con Chim) pha nước sôi thì mẹ cho ăn trái cây trước để  "Giết sâu bọ", thường là quả mận vì người miền Bắc tin rằng vị chua của trái mận sẽ giết những con vi trùng trong bụng, mà những con vi trùng (gọi là sâu bọ) này thường ngoi lên vào ngày Mồng Năm tháng Năm. Sau trái cây cho ăn bánh tro chấm mật, thêm cả rượu nếp và các thứ trái cây khác nữa. Tú thích nhất là bánh tro chấm mật, Tú ăn quanh năm được không phải đợi đến ngày Đoan Ngọ. Gạo nếp ngâm qua đêm với nước tro nó có mùi thơm rất đặc biệt. Mỗi khi cho miếng bánh trong veo, xanh biếc vào miệng mình như nếm được tất cả hương vị của đất trời. Nghĩ tới những thanh củi được đốt thành tro, thanh củi đó từ cây nào ra nhi? Cây đó có tên là gì và được lấy từ cánh rừng hay ngọn đồi nào? Rồi cái hạt gạo được chọn lựa đó từ cánh đồng xa lắc xa lơ ở đâu, được gặt hái, đem tới phiên chợ nào...rồi hình ảnh những bà mẹ quê Việt Nam cặm cụi làm những chiếc bánh đó.  Chao ôi là cảm động.
 Bây giờ lớn tuổi , sống xa quê lâu năm, mỗi lần những này lễ tết như thế này trở về, thấy lòng thổn thức, một nỗi buồn nhè nhẹ, ngọt ngào trở về, nhớ quê nhà, nhớ cha mẹ quá. 

tmt

Saturday, June 1, 2019

Nhìn bức ảnh Phạm Phú Minh đặt tay trên vai tượng Phật, Trần Mộng Tú ngẫu hứng ba đoạn thơ






Đặt Tay 1

Đặt nhẹ bàn tay lên vai Phật
Gửi phận cỏ bồng gửi nổi trôi
Dẫu bao dâu bể trong cuộc sống
Vẫn tạ thâm ân của đất trời.


Đặt Tay 2

Đặt tay lên vai Phật
truyền sang hết ưu tư
gửi trả những ngọn sóng
gửi trả cả sương mù.

Đặt Tay 3

Đặt tay lên vai Phật
Bỏ lại bờ bên kia
Yết Đế  um....Yết Đế 
Đã tìm được lối về.....

tmt-  5/27/19