NƠI LƯU TRỮ BẢN THẢO HỒI KÝ CỦA PPMINH

 HỒI KÝ

PHẠM PHÚ MINH

 Chương I : THẦY TÔI


Viết hồi ký về đời mình, tôi không thể không viết về người cha của tôi. Anh chị em chúng tôi đều gọi cha mẹ của mình là thầy và mợ.

Ông tên là Phạm Phú Hưu, cháu gọi ông Phạm Phú Thứ là ông nội. Ông là con của ông Phạm Phú Hạ là con thứ tám của ông Phạm Phú Thứ, tục gọi là ông Nghè Tám.

Thầy tôi sinh năm 1903, lớn lên trong cảnh nền cai trị của người Pháp đã ổn định từ lâu, học tiểu học tại Quảng Nam, và trung học tại trường Khải Định (sau này là Quốc Học) Huế. Cùng lớp với ông có ông Phạm Văn Đồng, sau làm Thủ Tướng trong chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Thầy tôi chỉ học đến lớp Đệ Tứ niên, sau khi đậu bằng “Diplôme” (sau này gọi là bằng Trung học Đệ Nhất cấp) thì ra đời với nghề giáo viên tiểu học ở khoảng tuổi hai mươi. Sau này tôi được nghe kể lại, tuy là con quan lớn nhưng nhà ông nội tôi không mấy khá giả, thời ấy thầy tôi học tới đó là có thể ra đời có nghề vững chắc rồi.

Thầy tôi bắt đầu đi dạy học có lẽ vào năm 1923, nhiệm sở đầu tiên là trường tiểu học Phan Thiết tỉnh Bình Thuận. Tuy tôi không biết đích xác năm thầy tôi lập gia đình, nhưng tôi biết vài năm sau thì có mợ tôi vào sống với thầy tôi tại Phan Thiết, với một cậu bé giúp việc người làng Đông Bàn. Năm 1926 thì thầy mợ tôi có người con đầu tiên, đó là chị Phạm Thị Lựu, chị Cả của tôi. Chị sinh ra không phải tại Phan Thiết, nhưng tại làng Quảng Huế, huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam là quê bên ngoại của tôi. “Con so về nhà mẹ”, chắc chắn thời đó mợ tôi và gia đình đều theo tập quán cũ, là sinh con đầu thì về nhà cha mẹ đẻ của mình, nên mợ tôi khi có thai chị Cả tôi thì về Quảng Huế để được sự săn sóc của bà ngoại tôi. Tôi nghĩ đây là một tập quán rất hay.

Ở đây cần mở một dấu ngoặc để nói về cách đặt tên cho con gái của dòng họ Phạm Phú. Đó là tất cả nữ lưu của họ Phạm Phú đều có tên kép, với chữ Xuân đi trước. Xem lại gia phả, ngay đời ông Thỉ tổ của giòng họ tại đất Quảng Nam là Phạm Phú Điều, người con gái duy nhất của ông có tên là Xuân Lược. Và từ đời đầu tiên này, gia phả đã có một ghi chú như sau : “Họ Phạm Phú, con trai lót chữ ‘Phú’, con gái lót chữ ‘Xuân’.” Nhưng chị Cả của tôi, tức con gái lớn của thầy tôi, lại có tên là Phạm Thị Lựu, tại sao vậy ? Tôi có đem việc này hỏi thầy tôi, thì được trả lời : chị Cả tôi được sinh tại nhà Ông Bà Ngoại, giấy khai sinh do ông ngoại tôi –người không biết quy luật đặt tên của họ Phạm Phú- làm tại làng Quảng Huế, chính ông ngoại đặt tên cho cháu là Lựu, không có chữ Xuân.

Nhưng cũng có một cách giải thích khác, do chính chị Cả tôi thuật lại cho các con của chị : thoạt đầu, khi đến tuổi đi học thì chị Cả có tên là Phạm Thị Xuân Lựu, vì giấy khai sinh ghi như vậy. Nhưng không biết đến lớp mấy thì cái tên của chị bị các bạn đem ra bàn tán đùa cợt. Họ nói : “Ai cũng biết hoa lựu, trái lựu là sản phẩm của mùa hè. Thế mà tên cô này là Xuân Lựu, tức lựu mùa xuân, thì đó là hình ảnh gì? Chắc chỉ là một cây trơ cành.” Chị Cả tôi tức lắm, về “mét bố”, thầy tôi thấy tội nghiệp bèn quyết định bỏ chữ Xuân trong tên chị.

Ba năm sau, 1929, thì chị Ba của tôi Phạm Thị Xuân Lan ra đời tại Phan Thiết. Không lâu sau đó thầy tôi được đổi từ Phan Thiết về dạy tại Bình Định, không rõ trường nào, nhưng chỉ một thời gian ngắn có lẽ khoảng một năm sau thì ông lại được thuyên chuyển một lần nữa, về làm Hiệu trưởng trường tiểu học phủ Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Cứ cho là ông tới nhiệm sở này vào năm 1930 thì ông đã làm Hiệu trưởng trường tiểu học Bình Sơn suốt 15 năm, cho đến 1945. Trong 15 năm đó năm anh em trai chúng tôi lần lượt ra đời, đều có giấy khai sinh tại làng Tiên Đào, phủ Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi : Phạm Phú Hòa sinh năm 1930, Phạm Phú Hiệp 1935, Phạm Phú Hiển 1937, Phạm Phú Minh 1938, và Phạm Phú Lợi 1941.

Hình ảnh xa nhất của thầy tôi mà tôi còn nhớ là một hôm ông bế tôi ngồi trên xe đạp của ông, và chở tôi đến trường. Hôm đó trường nghỉ, vắng tanh, ông dắt tôi vào một căn phòng, trải trên nền xi măng một miếng vải lớn cho tôi nằm chơi trên đó, rồi ông đến ngồi tại bàn giấy làm việc với một đống giấy tờ. Sau này lớn lên khi nhớ lại các mảng màu sắc của miếng vải mà thầy tôi trải cho tôi nằm thì tôi biết đó là một lá cờ Pháp, còn khi ấy, với thân mình còn nhỏ xíu tôi chỉ biết đó là một miếng vải rộng mênh mông tha hồ cho tôi quấn vào mình mà lăn lộn trong phòng. Lúc đó chắc tôi vào khoảng bốn tuổi.

Có lẽ quãng thời gian từ 1930 đến 1945, với chức vụ hiệu trưởng trường tiểu học Bình Sơn là quãng đời ổn định và có ý nghĩa nhất trong đời thầy tôi. Tại Bình Sơn trong vòng 10 năm, mợ tôi đã sinh một loạt năm người con trai. Thầy mợ tôi mua một cái nhà nằm ven quốc lộ 1 bên tả ngạn của sông Trà Bồng là con sông chia phủ lỵ Bình Sơn làm hai vùng riêng biệt. Bên hữu ngạn là chợ Châu Ổ và khu buôn bán của phủ, bên tả ngạn là khu hành chánh, tri phủ (lúc bấy giờ là ông Phạm Như Phiên) làm việc và cùng gia đình cư ngụ luôn trong phủ đường. Bên cạnh phủ là trường tiểu học Bình Sơn, từ lớp Năm cho tới lớp Nhất.

Song song với công tác giáo dục tốt đẹp cho địa phương Bình Sơn, trong thập niên 1930 thầy tôi giác ngộ đạo Phật và để hết tâm lực trong việc tổ chức sinh hoạt và truyền bá Phật Giáo. Trong ký ức mù mờ đầu đời của một đứa bé bốn tuổi, tôi còn thấy lờ mờ những buổi tôi được mẹ dắt lên chùa ở trên một trái đồi khá cao dự những buổi tụng kinh rất trang nghiêm, và có cả những buổi tối được mẹ dắt đi giữa một đám rất đông người, tôi rất buồn ngủ và thấy chung quanh mình là một rừng chân người. Ngôi chùa trên đồi đó là do chính thầy tôi đứng ra tổ chức việc xây dựng.

Khoảng cuối thập niên 1930 thầy tôi rất bận Phật sự, thường vắng nhà đi thuyết pháp ở các làng xã xa (chắc là trong những ngày nghỉ hè, chứ trong niên học thì không thể đi như thế được). Tôi nghe hai chị tôi kể lại, một lần thầy tôi về tới nhà sau nhiều ngày vắng mặt, mẹ tôi bồng tôi lúc đó còn ẵm ngửa đưa thẳng cho thầy tôi rồi giận dỗi : “Đây là con ông, mà ông bỏ nhà đi hoài, tôi giao cho ông đó !”

Từ giữa thập niên 1940 thì đời của thầy tôi bắt đầu gặp những biến cố lớn. Năm 1943 bà nội chúng tôi mất. Năm sau, vào mùa hè năm 1944 mẹ chúng tôi mất. Mùa đông năm 1944 tôi bị chó dại cắn, thầy tôi phải đích thân đem tôi ra Huế để được chích 18 mũi thuốc ngừa dại. Qua năm 1945, có lẽ khoảng tháng 5, thầy tôi được chính phủ Trần Trọng Kim chỉ định làm Tri phủ Bình Sơn. Thời gian này tôi không còn có mặt ở Bình Sơn nữa, vì sau cái chết của mợ tôi, cô Tư tôi đã vào Bình Sơn đem anh Hiển và tôi về Đông Bàn đi học trường làng, để nhẹ gánh bớt cho hai chị tôi mới ở tuổi mười lăm mười bảy mà đã phải lãnh trách nhiệm cai quản một gia đình quá đông đúc.

Sau này lớn lên có lúc tôi thắc mắc sao thầy tôi đang ở ngành giáo dục mà lại được chính phủ Trần Trọng Kim chỉ định làm tri phủ Bình Sơn vào hè năm 1945. Tôi có hỏi thầy tôi, thì ông chỉ đáp qua loa rằng chính phủ Trần Trọng Kim hồi đó có chương trình muốn đổi mới toàn diện guồng máy hành chánh trong nước với nhân sự hữu hiệu hơn là lớp quan liêu cũ kỹ của triều nhà Nguyễn. Thời gian đầu khi mới nhậm chức tri phủ, thầy tôi cho chị Ba tôi cùng em Lợi về Quảng Nam, giữ hai anh Hòa và Hiệp cùng sống ở phủ với ông. Nhưng sau thấy tình hình Việt Minh hoạt động mạnh quá, ông cho hai anh về Quảng Nam, ông ở lại trong phủ một mình với một người lính lệ già. Ông kể chính quyền hồi đó hầu như không còn kiểm soát được tình hình, mỗi tối làng xã nào Việt Minh cũng đánh chiêng đánh trống triệu tập đồng bào họp mít tinh. Một buổi tối ông đang ngồi hóng mát ngoài hiên phủ lỵ, bỗng thấy từ trên cây gạo ở cổng phủ có một cục lửa xuất hiện, rồi bay vụt về hướng bắc. Thầy tôi kể lại, lúc chứng kiến cảnh ấy ông linh cảm đó là một cách chỉ dẫn hướng đi cho mình của một thần linh nào đó.  Trong giấc ngủ tối hôm đó thầy tôi mơ thấy một bóng người hiện ra nói với thầy tôi rằng : “Phải rời nơi đây, đi về Quảng Nam ngay.” Sáng hôm sau ông bỏ một số giấy tờ và quần áo vào chiếc cặp da, gọi người lính lệ vào căn dặn mọi chuyện rồi giao chìa khóa của phủ cho người ấy, sau đó lên xe đạp theo quốc lộ 1 đạp miết về hướng Bắc, tức là về hướng Quảng Nam. Vượt đoạn  đường khoảng 70 cây số, hai hôm sau ông về tới làng Đông Bàn, nơi tất cả anh chị em chúng tôi đã về đầy đủ từ trước.

Thầy tôi kể : từ mùa hè năm 1945 tình hình Quảng Ngãi và riêng phủ Bình Sơn đã biến chuyển rất nhiều. Phong trào Việt Minh đã phát triển mạnh trong quần chúng, tối nào các làng xã cũng tổ chức đốt đèn đuốc, tiếng trống, chiêng mõ rộn rịp tập họp dân chúng để tuyên truyền cách mạng, chính quyền hầu như không còn nữa. Và từ cách mạng tháng Tám, Quảng Ngãi đã nổi tiếng là nơi Việt Minh giết rất nhiều người, nhiều nhất là tín đồ đạo Cao Đài và những thành phần mà phe cách mạng cho là “phản động”, như có liên hệ với người Nhật chẳng hạn. Họ giết bằng cách chém, hoặc chở trên thuyền ra bỏ giữa biển khơi cho chết đuối.

Giữa một không khí như thế, nếu thầy tôi ở lại Bình Sơn với tư cách là một tri phủ của chính phủ Trần Trọng Kim thì số phận của thầy tôi sẽ như thế nào? Cái hiện tượng cục lửa bay về hướng Bắc như một dấu hiệu hướng dẫn, rồi giấc mơ của thầy tôi trong đêm ấy phải chăng là cách dục giã của một vị thần linh nào đó muốn cứu thầy tôi thoát nạn ? Nhưng tôi còn nhớ, trong một lần trò chuyện với tôi về sau này, thầy tôi có nói nếu ông vẫn ở lại phủ Bình Sơn thì Việt Minh ở đó cũng không động chạm gì đến. Nhìn lại tình hình giết chóc tại Quảng Ngãi thời 1945 thì có lẽ thầy tôi có lý : Việt Minh giết rất nhiều người nhưng toàn là người hầu như vô danh, không có ai thuộc giới trí thức trong tỉnh, ngay cả khi họ là thành phần đảng viên Quốc Dân Đảng.

Thời điểm này tôi đã lên bảy và anh Hiển tôi lên tám, hai đứa tôi đã được cô Tư tôi đem về làng cho đi học trường làng từ cuối năm 1944. Từ ngày thầy tôi về tới nhà, coi như toàn bộ gia đình thầy tôi đã về cố hương, với người con lớn nhất là chị Ba tôi (Xuân Lan), anh Bốn (Phạm Phú Hòa), anh Chu (Phạm Phú Hiệp), anh Hiển, tôi Minh, và út Phạm Phú Lợi. Anh Bốn tôi thì đã rời trường Providence từ Huế về tiếp tục học tại Hội An, anh Chu tôi thì học trường Phong Thử có chú Trợ (Phạm Phú Thông) đang dạy ở đó. Chị Cả tôi thì đã làm đám cưới với anh Trần Hoàng từ cuối năm 1944, và đã “về nhà chồng” tại làng Giao Thủy, phủ Bình Sơn, Quảng Ngãi.

Về tới làng, thầy tôi nghỉ ngơi ít lâu rồi đi xuống Hội An, có lẽ để tiếp xúc với giới chức về giáo dục tỉnh Quảng Nam và bạn bè tại đó. Thầy tôi có một người bạn rất thân là bác Hà Mão từ lâu đã làm việc trong cơ quan chính quyền của Pháp tại Hội An. Bác Mão có người con trai lớn là anh Hà Bồng, và đã đi hỏi chị Ba tôi cho anh ấy (hai ông bạn nhất quyết “làm sui” với nhau). Vào khoảng cuối năm 1945, anh Hà Bồng xung phong vào đoàn quân Nam tiến, vào tham dự các trận đánh với Pháp tại mặt trận Nha Trang, và khoảng giữa năm 1946 anh đã tử trận tại đó. Một lễ tưởng niệm anh đã được tổ chức tại Hội An, và chị Ba tôi, với tư cách vợ chưa cưới của anh Bồng, đã đi Hội An để dự buổi lễ ấy. Như vậy, dù chỉ mới hứa hôn, chị Ba tôi đã thành “góa phụ” !

Đi tản cư

Tình hình từ nửa sau năm 1946 dần dần có vẻ căng thẳng. Thoạt đầu là những cán bộ quân đội của Việt Minh xuất hiện tại làng tôi, họ có tổ chức một đêm kịch lửa trại tại sân đình, trong đó có những nhân vật “thằng tây” đi cướp nước đòi ăn một món ăn tây là “mào xì” trao đổi mãi một lúc mới biết đó là món “mì xào” khiến cho tụi trẻ con chúng tôi cười nghiêng ngửa.  Rồi đến các đợt người tản cư từ Hội An, Đà Nẵng đi qua làng tôi. Họ chỉ đi qua thôi, đi về phía tây xa đường quốc lộ 1, đến gần với dãy Trường Sơn. Một hôm một chiếc thuyền lớn ghé bến nhà ông nội tôi, đó là gia đình của bác Hà Mão từ Hội An lên, ghé lại chơi vài hôm rồi tiếp tục đi ngược sông Thu Bồn để đến một đồn điền của bác Mão ở một nơi gọi là Tiên Tráng thuộc huyện Tiên Phước.

Không khí chiến tranh loạn lạc đã khiến bầu không khí bao đời yên tĩnh của làng tôi bỗng nhiên biến mất. Nhất là một buổi chiều bỗng nghe nổ ầm một tiếng thật lớn, khiến cả làng rúng động. Đó là quả đại bác đầu tiên của quân Pháp bắn từ Vĩnh Điện là phủ lỵ của Điện Bàn cách làng tôi độ 5 cây số đường chim bay mà họ mới chiếm xong. Họ chỉ bắn thử một quả thôi, may mà rơi ở bờ sông vắng vẻ không gây chết chóc gì, nhưng tạo hoảng sợ nơi dân làng. Tiếng nổ như là một báo hiệu thời kỳ bình an yên tĩnh đã hết, và chiến tranh đang đến.

Sau Tết năm 1947 trường làng tôi thông báo chính thức đóng cửa vì chiến tranh.  Nhà nhà chuẩn bị tản cư.

Một buổi chiều gia đình tôi lên đường đi tản cư. Khoảng 5 giờ chiều đoàn người chuẩn bị khởi hành, đám anh em chúng tôi đều vào vòng tay chào ông nội, tôi nhớ vẻ mặt ông buồn rười rượi. Năm đó ông đã ngoài tám mươi, và ông biết sau chuyến ra đi này của chúng tôi, ông sẽ không còn bao giờ gặp lại chúng tôi nữa. Rồi thầy tôi ra lệnh khởi hành, ông đi trước rồi tới chị Ba, sau chị là bốn anh em trai chúng tôi : Hòa, Hiệp, Hiển. Minh. Thiếu Lợi là con út, lúc đó chưa đầy 6 tuổi, đang bị cảm sốt không đi được, phải ở lại nhà với cô Tư, sẽ đi sau. Một đoàn gồm sáu người, mỗi người mang một cái túi áo quần, đi hàng một trên đường ruộng, bóng trải dài trên đồng lúa xanh.

Về sau này khi hát bài Đường Về Quê của Phạm Duy :

Kìa đoàn người đi miên man trên đường gian nan

thì tôi lại nhớ đến hình ảnh “đoàn người” của gia đình tôi đang dấn bước vào “con  đường gian nan” buổi chiều hôm đó, bóng đổ dài trên cánh đồng làng Đông Bàn thân yêu của chúng tôi.

Đi mãi đến khi gặp đường xe lửa thì chúng tôi nhập vào và tiếp tục nhắm về hướng Nam. Tôi nhớ đêm đó có trăng, hai anh lớn Hòa và Hiệp biểu diễn đi trên đường rầy như người làm xiếc, hoặc phóng những bước dài trên các thanh tà-vẹt, những việc mà anh Hiển và tôi (chưa đầy mười tuổi) chưa làm được. Đến một rừng thông, thầy tôi ra lệnh dừng lại để nghỉ qua đêm. Tôi nhớ hai anh lớn trổ tài hướng đạo, chọn một khoảng rừng bằng phẳng để làm chỗ ngủ, rồi cùng chị Ba soạn cơm nắm muối mè để cả nhà ăn bữa cơm xa nhà đầu tiên “trên đường tản cư”.

Hôm sau dậy sớm, chúng tôi đi tiếp, gần trưa đến một nơi gọi là làng Đồng Thành thuộc huyện Quế Sơn, vào một ngôi nhà ngói có sân rộng, và lũ trẻ chúng tôi biết là đã đến nơi. Thầy tôi được chủ nhân là bác Khâm đón tiếp ân cần, và nhường cả gian “nhà trên” khá rộng cho gia đình chúng tôi. Cuộc sống “đi tản cư” chính thức bắt đầu.

Chị Ba chúng tôi đi thăm ngay gian nhà bếp khá rộng để chuẩn bị việc nấu nướng, tôi và anh Hiển được phân công đi kiếm củi, hồi đó còn gọi là đi “mót củi”, tức là đi lang thang ra những chốn bụi bờ trong làng nhặt những cành khô mang về. Đi như thế chúng tôi gặp những người dân trong làng, họ hỏi chúng tôi con cái nhà ai, từ đâu tới v.v… và chúng tôi nhận ra người vùng này có giọng nói khác hẳn với người làng tôi, nghe lơ lớ như có pha giọng Bắc.

Hai anh Hòa và Hiệp coi như đã lớn, không tham gia công tác đi kiếm củi này. Tôi thấy hai anh hay đi qua chơi nơi nhà láng giềng, một ngôi nhà ngói cao lớn và sang trọng hơn nhà của chúng tôi đang trọ, mà tôi nghe nói là nhà của ông Lương Trọng Hối, một vị quan của triều đình Huế. Thì ra gia đình bác Phạm Phú Tiết của tôi, cũng thuộc giới quan quyền, đi tản cư trước chúng tôi và đang cư ngụ tại nhà này.

Độ một tuần sau thì em Lợi của chúng tôi vào tới. Cô Tư đã thuê một trai bạn trong làng, gánh hai cái thúng lớn, một đầu là Lợi ngồi lọt vào trong thúng, đầu kia chất độ bốn năm trái bí đỏ lớn hái trong vườn nhà. Một gánh vừa đưa người đi, vừa tiếp tế thực phẩm cho đám tản cư chúng tôi. Từ hôm đó ngày nào chúng tôi cũng được ăn canh bí đỏ.

Thầy tôi, hình như ngay sau khi đưa chúng tôi đến Đồng Thành đã lên đường đi tiếp vào Tam Kỳ, rồi Tiên Phước để lo sắp xếp ty Giáo dục từ Hội An cũng đang tản cư lên trên ấy. Chúng tôi sống những ngày tự do, không học hành, không bút mực, không sách vở. Mỗi buổi tối chị Ba tập họp ba đứa em nhỏ nhất (Hiển, Minh, Lợi) ngồi quây quần trên cái phảng gỗ bên cạnh cửa sổ, không đèn đóm gì cả, để hát với nhau. Anh chị em chúng tôi vốn có truyền thống hát hỏng từ thời còn ở Bình Sơn, qua các biến cố cách mạng 1945 các bài hát càng phong phú, nay trên con đường tản cư cuộc sống tạm bợ không một sinh hoạt nào có ý nghĩa, chị Ba tôi có sáng kiến mỗi tối cả nhà ngồi lại cùng nhau ca hát. Dù không được học nhạc, dù chỉ hát theo lối truyền khẩu, anh chị em trong gia đình đều hát rất đúng âm điệu và cả nhịp điệu, đó là điều mà sau này lớn lên được học âm nhạc, tôi đã nhận ra.

Chị Ba tôi có giọng hát trong trẻo, thường là người “lĩnh xướng” cho cả nhóm, nghĩa là chọn bài và xướng lên câu đầu tiên, thế là cả bọn chúng tôi hát theo. Những bài “cổ điển” hát trước 1945 thì có Xuân Về của Hoàng Quý (Đời ta bao tươi vui như hoa hồng thắm…), Bạch Đằng Giang của Lưu Hữu Phước, Tiếng Đàn Tôi của Lê Thương, Tiếng Chim Gọi Đàn của Hoàng Quý…; và “hiện đại” hơn thì có Chiến Sĩ Vô Danh của Phạm Duy, Gò Đống Đa, Chiến Sĩ Việt Nam, Không Quân, Hải Quân Việt Nam của Văn Cao v.v… Đó là sinh hoạt có tính cách giải trí của gia đình tôi trên bước đường tản cư.

Nhưng trong khi say sưa hát như vậy mỗi tối, chúng tôi không ai ngờ có một thính giả đứng ngoài hiên… nghe trộm. Người ấy đứng sát tường gần cửa sổ, trong bóng tối, các ca sĩ không ai phát giác ra, cho đến một hôm anh ấy làm quen với chúng tôi vào ban ngày. Đó là một thanh niên khôi ngô, hình ảnh của một hướng đạo sinh gương mẫu của thời đó, tên là anh Được, Lương Mậu Được, cũng là dân tản cư từ huyện Duy Xuyên qua đây. Anh Được có tài vẽ, tôi và anh Hiển rất hâm mộ. Với một quyển vở giấy trắng và cây bút chì, anh vẽ cái cổng nhà bác Khâm và lối đi cong cong vào sân rất thơ mộng. Tôi kể với anh rằng cách đây mấy tháng tôi và anh Hiển có đi xem buổi văn nghệ của một đoàn tuyên truyền xung phong tại đình làng Đông Bàn thì anh Được nhìn tôi chăm chú và nói : “Đoàn của anh đó, anh cùng mấy anh bạn Hướng đạo lập ra đoàn chỉ bốn năm người, và đi tuyên truyền nhiều nơi. Hôm ở đình Đông Bàn hai em ngồi ngay gần sát sân khấu phải không, hèn gì anh thấy quen quen !” Nhớ lại buổi đó, các anh luân phiên nhau kêu gọi tinh thần chống Pháp của đồng bào, xen kẽ với những bài hát đồng ca mạnh mẽ, kể cả bài Hướng Đạo Việt Nam. Nhiều năm sau có dịp gặp lại anh Lương Mậu Được lúc đó đã đổi tên là Lương Minh Đức, nhắc lại buổi “tuyên truyền xung phong” đó, anh nói : “Hồi ấy chưa có bài hát kháng chiến nào cả, bọn anh chỉ hát toàn bài hát hướng đạo.”

Làng Đồng Thành chỉ là trạm đầu tiên của cuộc tản cư, chỉ hơn một tháng sau chúng tôi lại lên đường đi vào Tam Kỳ, dưới sự hướng dẫn của anh Bốn (Phạm Phú Hòa). Chuyến đi này có cả gia đình của chú Trợ Thông (Phạm Phú Thông) cùng đi, có Dương và Bá là con của chú cùng một lứa tuổi với anh Hiển và tôi. Cũng theo hướng nam, trên con đường xe lửa đã bị phá hoại, đoàn người lại “đi miên man trên đường gian nan”. Buổi chiều thì tới ga Quán Rường, chúng tôi ghé vào một cái quán để ăn uống, tôi nhớ tôi được ăn một chén chè đậu đen. Khi rời quán tôi nhớ chú Trợ Thông ứng khẩu hát lên :

Tới Quán Rường, ăn cháo đường, ta xứng danh là người tản cư

(chú nhại bài hát khá phổ biến lúc bấy giờ :

Tiến lên đường, tới sa trường, ta xứng danh là cảm tử quân… khiến cả nhóm cười ồ vui vẻ).

Đi mãi đến tối mịt, cả đoàn đã rời đường sắt đi vào đường nhựa lúc nào tôi không hay, bỗng anh Bốn tôi để nghị cả đoàn dừng lại ngồi nghỉ ngay bên đường. Chị Ba tôi hỏi : “Gần tới chưa em?”, anh Bốn cười cười : “Còn độ vài cây số nữa !” Tôi nghe tiếng chị Ba tôi và vài người khác thở dài, vì ai nấy đều mệt đuối sức rồi. Bỗng anh Bốn tôi đứng dậy cười lớn : “Giỡn chơi thôi. Tới rồi, mọi người đi vào cổng này.” Vừa nói anh Bốn đi vào một cái cổng khá rộng ngay chỗ cả đoàn đang ngồi nghỉ. Cả đoàn ồ lên mừng rỡ, theo anh Bốn tôi đi vào cái cổng ấy.

Chúng tôi đi vào nhà của cô Trợ Lâm, người bạn đời thứ hai của thầy tôi. Đó là một cái villa kiểu tây khá lớn, nằm trong một khu vườn rộng bảy mẫu, ven quốc lộ 1 đoạn chạy qua thị xã Tam Kỳ. Từ nay cho đến nhiều năm về sau đây là một cái trạm dừng chân của chúng tôi trên bước đường tản cư –từ Tiên Phước xuống, hoặc từ Quảng Ngãi ra. Và cả sau 1954, hết chiến tranh Việt Pháp, đó vẫn là nhà của “cô Lâm” vợ sau của thầy tôi.

Thời gian này, 1947, thầy tôi thường ở Tiên Phước, vì chính quyền cách mạng của Quảng Nam cùng các ty sở đã từ Hội An chuyển lên Tiên Phước, một huyện miền núi cách Tam Kỳ khoảng 25 cây số về phía tây. Khi các sắp xếp tại Tiên Phước đã ổn định, chúng tôi gồm chị Ba, anh Hiệp, Hiển, Minh, Lợi lên Tiên Phước ở với thầy chúng tôi tại Ty Giáo Dục mà thầy tôi là Trưởng Ty. Anh Hòa thì tiếp tục theo học trường Phan Châu Trinh tại Cẩm Khê. Tất cả cơ quan của chính quyền tỉnh, từ Ủy ban Hành chánh Kháng chiến tỉnh (do bác Hà Mão làm chủ tịch) đến các ty sở của tỉnh đều đóng rải rác tại nhà đồng bào. Nhà cửa dân chúng của huyện miền núi này khá thưa thớt, không đông đúc giống vùng đồng bằng đất đai màu mỡ như quê Điện Bàn chúng tôi. Ty Giáo Dục của thầy tôi đóng trong một ngôi nhà khá rộng lợp tranh vách đất ngay dưới chân một trái núi thấp, ông Trưởng ty và gia đình sống ngay tại đó, các nhân viên của ty thì trọ tại các nhà khác trong xóm, hàng ngày giờ hành chánh thì tới ty làm việc. “Bureau làm việc” của thầy tôi là một cái phảng gỗ có trải chiếu, đó vừa là chỗ làm việc ban ngày và chỗ ngủ của thầy tôi về ban đêm. Tôi nhớ hình ảnh của thầy tôi khi ngồi làm việc trên cái phảng gỗ ấy : ngồi xếp bằng bên cạnh một chồng hồ sơ, ông đọc giấy tờ, viết lách, ký văn thư đều trong tư thế ngồi như vậy với hồ sơ giấy tờ để trên mặt phảng. Nhiều người rất phục thầy tôi trong tư thế làm việc ấy; ai cũng nói ngồi như thế thì họ không thể nào viết lách gì được.

Tôi đi học tại một lớp học tại một xóm trong vùng. Không thể gọi là trường vì chỉ có một lớp của cái xã mà chúng tôi đang ở, với một thầy giáo tên là thầy Qua. Thầy và cô Qua ở trong một ngôi nhà ngói nhỏ rất xinh xắn, tôi rất thường đến nhà thầy để mượn sách Truyền Bá về đọc. Tôi nhớ cho đến bây giờ cuốn Ngọn Cờ Lau (không chắc tác giả có phải là Tô Hoài không) là cuốn mà tôi say mê nhất, mô tả thời Đinh Bộ Lĩnh còn bé đi chăn trâu, chia phe đánh nhau với các bọn trẻ chăn trâu thuộc ba “thung” là Thung Lau, Thung Lũng và Thung Lụi. Sau thời gian học với thầy giáo Qua, tôi không bao giờ thấy lại bất cứ ở đâu cuốn Ngọn Cờ Lau huyền thoại ấy.

Anh Chu và anh Hiển tôi thì học lớp nhất tại trường huyện Tiên Phước, cách chỗ ty của thầy tôi độ vài ba cây số. Đến mùa hè năm 1948 có kỳ thi tiểu học đầu tiên của chính quyền kháng chiến. Anh Chu và anh Hiển cùng dự thí tại trường tiểu học của huyện Tiên Phước. Thực ra anh Chu đã học lớp nhất tại trường Phong Thử trước khi đi tản cư, nhưng năm 1947 vì thời cuộc nên chưa thi bằng tiểu học, sang năm 1948 mới thi một lần với em của mình. Kết quả là anh Hiển đậu thứ tư, còn anh Hiệp thì đậu thứ bốn mươi mấy.

Sau kỳ thi này và có bằng tiểu học, anh Hiệp vào Quảng Ngãi để theo học trường trung học Lê Khiết với sự bảo trợ của anh Trần Hoàng là anh rể của chúng tôi. Còn anh Hiển thì học trường Trần Dư tại Tam Kỳ. Phần tôi, cũng có trường mới, đó là “trường dành cho con em công chức” là một lớp học hỗn hợp nhiều trình độ do một cô giáo tên là Nguyễn Thị Như Đợi phụ trách, và tôi học lớp nhì với cô. Học sinh “trường” này là con em nhân viên các ty sở của tỉnh Quảng Nam chuyển từ Hội An lên vùng Tiên Phước này.

Cũng thời gian này ty Giáo dục của thầy tôi cũng dời chỗ, qua một xóm khác, với một ngôi nhà rộng rãi khang trang hơn. Tại ngôi nhà này, có mấy biến cố xảy ra.

- Một hôm có một ông đứng tuổi, mặc áo dài, tay cầm cây quạt giấy đến gặp thầy tôi. Trong hoàn cảnh tản cư, một người ăn mặc như thế là một hình ảnh hiếm có. Ông đến gặp và nói chuyện với thầy tôi khá lâu, rồi từ giã ra về.

Tối hôm đó khi nhân viên của ty đã về hết, thầy tôi gọi chị Ba tôi ra, cho biết ông khách hồi sáng đến gặp thầy tôi là để “hỏi vợ cho con”, cụ thể để hỏi chị Ba cho con trai ông ấy. Sau khi cho chị Ba biết qua về gia thế ông khách là một nhà giàu có ở Cây Trâm (còn gọi là Diêm Phổ, cách Tam Kỳ 15 cây số về phía nam) và con trai ông ấy, tên là Phạm Quang Vạng, là một thanh niên vừa đậu Tú tài Pháp vài năm trước, thầy tôi hỏi chị Ba : con có bằng lòng không ? Tôi còn nhớ rõ nguyên văn câu trả lời của chị Ba : “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”.

Và hôm đó thầy tôi đã quyết định “đặt” chị Ba làm vợ anh Vạng.

*

Anh Bốn tôi, Phạm Phú Hòa, thời gian này vẫn đang học trung học tại Cẩm Khê, thỉnh thoàng vẫn về Tiên Phước “thăm nhà” vài hôm rồi lại xuống Cẩm Khê đi học.

Một buổi tối tôi đã ngủ thì chợt thức giấc vì nghe tiếng khóc lớn của chị Ba tôi. Tôi tỉnh hẳn, ngồi dậy thì thấy thầy tôi đã mặc áo quần chỉnh tề, đang đứng trước cửa với một người ăn mặc quân phục tay xách một cây đèn dầu. Tôi chạy ra thì thầy tôi nói nhỏ với tôi : “Anh Bốn bị tàu bay bắn chết ở Cẩm Khê rồi, thầy phải đi với anh này xuống Cẩm Khê bây giờ”. Sau đó thì thầy tôi đi với người lính cầm đèn soi đường. Chị Ba tôi vẫn vật vã khóc than trong giường của chị.

Thời điểm này Pháp có chủ trương dùng máy bay oanh tạc các trường học của Việt Minh. Vừa có tin trường Lê Khiết tại Quảng Ngãi bị thả bom và bắn phá, thầy tôi đang lo lắng chờ tin anh Hiệp từ Lê Khiết, thì tối nay được tin anh Hòa. Chiều hôm đó anh Hòa đang nằm ở nhà trọ gần trường Phan Chu Trinh thì máy bay tới bắn trường và những nhà quanh trường. Anh Hòa đang nằm trên một cái phảng trong nhà trọ thì bị đạn vào đùi. Người ta băng bó qua loa rồi đặt anh lên chiếc võng để đưa đi nhà thương Cây Sanh, cách đó khoảng mươi cây số. Hai người khiêng đi và một số bạn học của anh đi theo. Trên đường anh Hòa nói rất nhiều, có khi dùng tiếng Pháp và tiếng Anh. Nhưng có lẽ vì băng bó không kỹ, máu vẫn chảy rỉ rả mà không ai hay biết, anh Hòa yếu dần dần rồi tắt thở khi cáng đi ngang một trảng sim. Tảng sáng hôm sau thầy tôi và người bảo vệ tới nơi, quyết định chôn anh ngay giữa trảng sim ấy. Sau này tôi mới biết người bảo vệ đó là do bác Hà Mão cử đi với thầy tôi. Ngay buổi tối ngày anh Hòa mất, bác Hà Mão nhận được điện thoại báo tin có lẽ từ chính quyền Cẩm Khê, nên phái người cùng đi với thầy tôi. Đường giây điện thoại hồi đó chỉ được thiết lập giữa Ủy ban Hành chánh tỉnh với một số chính quyền địa phương.

Mấy năm sau tôi có dịp đi với chị Ba tôi từ Tiên Phước xuống Tam Kỳ, có ghé lại trảng sim ấy để thăm mộ anh Hòa. Gặp mùa sim đang chín, chị Ba hái một túm sim đem lại mộ cúng anh. Hồi đó tôi ngạc nhiên trước cử chỉ như vậy (vì tôi hái được trái nào thì ăn ngay trái ấy), nhưng những năm về sau lớn lên nhớ lại, tôi thấy cái tình của chị Ba đối người em xấu số như vậy là rất đẹp, nhất là trong bước đường tản cư gian khổ. Tôi cũng còn nhớ trong lần thăm mộ anh Bốn tôi lần ấy, tôi thấy mộ có dựng một tấm bia nhỏ bằng đá khắc tên Phạm Phú Hòa, và đặc biệt bên dưới có hai câu thơ, giờ này tôi chỉ còn nhớ một câu : “Mười tám xuân xanh một bầu hy vọng”. Tôi hiểu bia ấy do thầy tôi thuê làm khi chôn anh Hòa tại đây.

Mấy ngày sau thầy tôi về lại Tiên Phước thì đúng lúc anh Hiệp cũng từ Quảng Ngãi vừa về. Trường Lê Khiết nơi anh đang theo học bị máy bay oanh tạc nặng nề, phải tạm thời đóng cửa, sẵn dịp ấy anh về thăm nhà. Anh kể chuyện trường Lê Khiết bị phá hủy tan hoang, và một trái bom trúng ngay hầm trú ẩn có cô giáo Cúc Hoa và 18 học sinh, tất cả đều chết không toàn thây.

*

Thầy tôi không giữ chức vụ Trưởng ty Tiểu học Quảng Nam lâu, chỉ từ năm 1947 đến 1950 là thầy tôi được thuyên chuyển đi Bình Định để giữ chức vụ Phó Giám Đốc Trung Tiểu Học Vụ Miền Nam Trung Bộ. Tôi nhớ vào mùa hè năm 1950 có một cuộc tập họp lớn của giáo viên các trường tiểu học trong vùng kháng chiến của tỉnh Quảng Nam để tiễn đưa thầy tôi. Địa điểm là Khánh Thọ, nằm trên con đường tỉnh lộ nối liền Tam Kỳ và Tiên Phước. Trong đám giáo viên đông đảo ấy, tôi có gặp cậu Mười (Lê Văn Bình) của tôi, lúc bấy giờ là giáo viên trường tiểu học Trung Phước thuộc huyện Quế Sơn. Cậu là em ruột và là em út của mẹ tôi. Cậu có cho tôi biết là cuối mùa hè năm ấy (1950), tôi sẽ đi Trung Phước ở với cậu để đi học. Sau này tôi mới hiểu đó là kế hoạch cậu đã bàn với thầy tôi để tôi có chỗ ăn học khi thầy tôi đột ngột được chuyển vào làm việc tại Bình Định, nơi chỉ huy đầu não của Liên Khu Năm gồm các tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú. Chỉ có Lợi là con út đi theo thầy tôi vào Bình Định, anh Hiệp vẫn tiếp tục học Lê Khiết tại Quảng Ngãi với sự bảo trợ của anh Hoàng – chị Cả, anh Hiển vẫn học ở Tam Kỳ, còn tôi phải đi mãi về vùng cận sơn phía bắc của tỉnh Quảng Nam.

Cuối cùng rồi tôi cũng đến Trung Phước thật, vào cuối hè 1950, tôi đi với anh Chu tôi và anh Tạ Hồng Nguyện, em ruột anh Tạ Ký. Chuyến đi và một năm ở Trung Phước khá phong phú, tôi có ghi lại trong một đoạn hồi ký khác. Tôi chỉ muốn nhắc đến việc, dù tôi đang ở gần như là cực bắc của liên khu 5, nhưng trong năm ấy tôi vẫn liên lạc thư từ được với thầy tôi và Lợi đang ở Bình Định, dù hồi đó không có cái gọi là bưu điện. Cậu Mười tôi thỉnh thoảng vẫn bảo tôi : “Con muốn viết thư cho thầy con không, viết đi, cậu gửi cho.” Thì ra hồi đó cậu có thể dùng hệ thống công văn trong ngành Giáo dục để liên lạc với thầy tôi tuốt ở Bồng Sơn. Tôi nhớ tôi có viết cho Lợi một bức thư, trong đó tôi khoe thành tích mới của tôi : “Từ ngày ra ở Trung Phước, anh đã học và đã biết đàn, biết bơi rồi”.

Sau một năm học lớp 4, tương đương với lớp nhất của bậc tiểu học, tôi lại được anh Chu ra Trung Phước đón vào phía nam vào mùa hè 1951. Lần này thì tôi vào thẳng nhà của anh Hoàng-chị Cả để chuẩn bị vào lớp 5, lớp đầu tiên của bậc trung học tại một trường trong huyện Bình Sơn. Trong thời gian này có một lần tôi được gặp thầy tôi nhân ông từ Bồng Sơn ra Tam Kỳ để thăm cô Lâm, trong chuyến đi vào Bình Định trở lại, ông ghé nhà anh Hoàng nghỉ ngơi mấy bữa. Tôi nhớ ông có đưa cho anh Hoàng và chị Cả xem một cây bút máy mới hình như là hiệu Kaolo là hàng ngoại hóa mà ông mới mua tại Tam Kỳ. Đến khi tôi cầm xem cây bút đó thì tôi thích quá, buộc miệng : “Thầy cho con cây viết này nghe thầy.” Ông cười : “Con thích thì thầy cho con”. Nhưng chị Cả tôi phản đối liền : “Em còn nhỏ mà dùng bút máy làm gì.” Rồi ghé tai tôi nói nhỏ : “Để cho thầy đem vào Bình Định bán, có tiền lắm.” Thời gian đó, ngành buôn lậu rất thịnh hành khắp liên khu 5 : người ta mua những thứ hàng “ngoại hóa” từ những nơi Tây chiếm đóng như Đà Nẵng, Hội An : vải vóc, đá lửa (cho hộp quẹt), thuốc tây, giấy, bút, mực v.v… mang vào bán ở vùng “tự do” như Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Bình Định. Có một câu ca dao rất thời sự phổ biến khắp khu 5 thời đó :

Đầu phồng đá lửa 

Có chửa kaki

Có thai Tam Kỳ

Vô Bồng Sơn đẻ

 

(Đầu phồng là kiểu tóc thời trang của phụ nữ liên khu 5 thời đó. Người đi buôn lậu nhét một túi đựng đầy đá lửa vào chỗ tóc phồng đó. Vải kaki thì nhét vào bụng giả có chửa, đi từ Tam Kỳ vào đến Bồng Sơn thì “đẻ”, nghĩa là lấy ra khỏi bụng để đem bán. Thời đó trên đường quốc lộ 1 của các tỉnh khu 5 có rất nhiều trạm công an để xét đồ lậu).

“Dinh tê”

(Dinh tê là từ nói trại từ chữ Pháp “rentrer”, có nghĩa là “vào trở lại” –tức  bỏ cuộc sống tản cư, vào lại các thành phố Pháp đang chiếm đóng và chính quyền Quốc gia của Quốc trưởng Bảo Đại đã được thành lập).

Cuối niên học này (1951-52) tôi lại rời Bình Sơn về Tam Kỳ để chuẩn bị cho một việc lớn lao : “dinh tê” về vùng quốc gia, cụ thể là thành phố Hội An. Vào cuối niên học anh Chu từ trường Lê Khiết vào Bồng Sơn thăm ông già, rồi đưa Lợi cùng đi với anh ra Bình Sơn để đón tôi, rồi ba anh em đi thẳng một mạch ra Tam Kỳ để gặp anh Hiển. Trong lòng tôi lúc ấy chỉ nơm nớp sợ anh Hiển đã được đón đi về “bên kia” rồi, nên khi gặp anh Hiển tại Tam Kỳ tôi mừng lắm. Bốn anh em chúng tôi đi lên Khánh Thọ, cách Tam Kỳ 15 cây số, là nơi hẹn với người đi buôn dẫn anh Hiển và tôi về làng Đông Bàn. Buổi sáng đúng ngày hẹn, một người đàn bà gánh một đôi bầu đến đón chúng tôi đi, anh Hiệp đưa tôi và anh Hiển một đoạn đường dài xuyên qua hết một đồi sim mới quay trở lại. Tâm trạng tôi lúc đó khá hồn nhiên, không hề nghĩ đây có thể là một lần vĩnh biệt.

Ba ngày sau chúng tôi về tới làng Đông Bàn, gặp cô Tư với ngôi nhà ngói cũ kỹ mà chúng tôi đã rời đi cách đây sáu năm. Không còn ông nội. Không còn thằng Kề, nó đã lớn cô Tư trả nó trở về với gia đình ở Cẩm Toại. Cả Gò Nổi bây giờ đã có chính quyền quốc gia, một thứ chính quyền làng xã yếu ớt chỉ trông cậy vào các đồn Tây đóng ở Phú Bông, Xuân Đài, Vân Ly để giữ an ninh.

Khoảng gần hai tháng sau chúng tôi đi với cô Hường xuống Hội An để bắt đầu một cuộc sống mới, học vấn mới từ mùa hè năm 1952. Từ đó chúng tôi không có tin tức về thầy chúng tôi và tất cả anh chị em còn ở “chiến khu”, cho đến năm 1954.

Hội đàm Genève về chiến tranh Việt Nam vào mùa hè năm 1954 thu hút sự chú ý của tôi rất nhiều, vì lúc bấy giờ tôi đã trở thành một thiếu niên đang học trung học tại thành thị, tối nào cũng nghe đài BBC để theo dõi tin tức về cuộc hòa đàm và trận chiến Điện Biên Phủ. Rồi mọi chuyện ngã ngũ, Việt Nam bị chia đôi, rồi chính quyền quốc gia Quảng Nam chuẩn bị tiếp thu các vùng Việt Minh chiếm giữ trong suốt cuộc chiến : nửa tỉnh phía nam, và vùng sơn cước. Một hôm anh Phan Thiệp, một người đang tiếp thu vùng Tam Kỳ, nói với tôi : “Minh muốn đi Tam Kỳ thăm thầy không? Nếu muốn thì đi với anh.” Tôi mừng quá, vội vàng nhận lời. Lúc đó tôi đang ở với gia đình anh Lê Đình Duyên (anh Duyên đang lo tiếp thu huyện Duy Xuyên), chị Duyên là chị em cô cậu ruột của tôi. Tôi ngỏ ý với chị về chuyện đi Tam Kỳ, chị bằng lòng, và cho tôi một ít tiền để mua quà mang đi. Tôi nhớ tôi mua mấy ký kẹo Nougat và mấy thỏi Chocolat. Đến ngày đi, anh Thiệp đến nhà đón tôi với chiếc Land Rover, có tài xế lái xe với một người bảo vệ cầm súng.

Vì đường quốc lộ 1 bị phá hoại hoàn toàn trong thời gian chiến tranh, xe phải chạy trên đường xe lửa đã hoàn toàn bị gỡ phần đường sắt, nghĩa là chạy trên lớp đá sỏi. Gần tối tới Tam Kỳ, chúng tôi ngụ tại nhà thờ Thiên Chúa Giáo Tam Kỳ nơi đó đang có một đơn vị quân đội quốc gia trú đóng. Sáng hôm sau đi xe với anh Thiệp đi lên con đường tỉnh lộ nối với Tiên Phước (con đường này tôi đã đi lại nhiều lần thời tản cư), khi tới Khánh Thọ anh Thiệp bảo xe dừng lại, chỉ vào một con đường nhỏ phía bên trái và dặn tôi : “Minh xuống đây, đi theo con đường nhỏ này vào xóm, hỏi thăm nhà thầy đang ở, ai cũng biết.”

Tôi xuống xe, dấn bước trên con đường vào xóm. Bỗng nghe một tiếng gọi sau lưng : “Anh Minh !” Tôi ngạc nhiên quay nhìn phía sau, và nhận ra ngay người gọi, đó là Phạm Phú Tuyên người em chú bác với tôi nhưng lớn tuổi hơn tôi. Tuyên từ năm 1945 đã là một cán bộ Việt Minh. Tuyên nói : “Bác đang ở nhà thầy tôi trong xóm này” rồi vừa đi vừa nói chuyện với tôi. Thì ra Tuyên đã nhìn thấy tôi bước từ trên xe xuống, và đã nghe lời anh Thiệp nói với tôi. Tới một căn nhà tranh, Tuyên nói nhỏ với tôi : “Anh đứng ở sân, để tôi kêu bác ra.” Một lát sau, một ông già mặc bộ đồ bà ba màu xám bước ra chăm chú nhìn tôi rồi kêu lớn : “Thằng Minh !” Đó là thầy tôi, ông bước đến bên tôi, với hai tay để lên vai tôi rồi kêu lớn : “Lớn quá rồi ! Lớn quá rồi ! Nhìn không ra !” Tôi nghe câu nói đùa của Tuyên : “Cơm gạo vùng bị chiếm mà, nuôi người mau lớn lắm.” Đùa nhưng cũng có ẩn ý chế nhạo chính trị.

Lúc đó tôi không hề nhớ là thầy tôi đáng lẽ đang ở Bồng Sơn tỉnh Bình Định, chứ sao lại ở đây. Mãi sau tôi mới biết, sau khi tôi và anh Hiển “dinh tê” thì ngay lập tức thầy tôi mất chức Phó Giám Đốc Trung Tiểu Học Vụ miền Nam Trung Bộ, và phải về lại Quảng Nam đi dạy tại một trường vô danh nào đó ở vùng quê Khánh Thọ. Ngẫm ra cái vụ mất chức ấy là một may mắn cực kỳ lớn cho thầy tôi và cả gia đình chúng tôi. Nếu ở lại chức vụ cũ, thế nào thầy tôi cũng bị tập kết ra Bắc, và nửa đời sau của thầy chúng tôi chắc chắn là chẳng có ý nghĩa bằng ở lại miền Nam.

Nhân việc này, và cũng vào lúc bản thân tôi đã 85 tuổi khi viết những dòng này, có thể kết luận một cách chắc chắn rằng thầy chúng tôi và tất cả các con ông đều không có số… làm quan, tức là có địa vị cao trong guồng máy cai trị của xã hội, mặc dù không thiếu học vấn và khả năng. Môi trường thích hợp nhất là dạy học và truyền thông (tức làm báo, như tôi sau này).

Một thời gian ngắn sau chuyến đi thăm của tôi thì thầy tôi và Lợi trở về Đông Bàn, rồi Hội An, để bắt đầu một nếp sống mới trong “chế độ quốc gia”.

*

Tôi đang nhớ lại lần đầu tiên thầy tôi về lại nhà ở Đông Bàn kể từ buổi chiều lên đường “đi tản cư” vào một ngày mùa xuân năm 1947. Một ngày vào khoảng tháng Tám năm 1954, từ Hội An thầy tôi và tôi cùng về Đông Bàn, đến nhà lúc chập choạng tối. Thời gian này hai bác Giám trai và gái đang ở tại nhà Đông Bàn sau khi hồi cư mà nhà của hai bác tại Quảng Huế đã bị phá hoại trong chiến tranh. Sau khi gặp cô Tư ở nhà ngang, thấy tôi lên “nhà trên” để gặp bác Giám. Khi nhìn ra thầy tôi đứng bên cạnh bác Giám bật kêu lên : “Hưu !” rồi òa lên khóc. Tôi thấy cảm động khi bác Giám, lúc đó đã ngoài sáu mươi, trong trong một cơn xúc động rất lớn trong đời bác, đã thốt ra một cách gọi thầy tôi giống như lúc hai anh em còn nhỏ còn sống với cha mẹ. Bởi vì từ khi tôi biết nhận thức, tôi luôn luôn thấy bác Giám tôi gọi thầy tôi là “chú Đốc” các cô Hường, cô Tư gọi thầy tôi là “cậu Đốc”, và dân làng Đông Bàn gọi thầy tôi là “ông Đốc”. Gọi thẳng ra tên “Hưu!” là bác Giám tôi khi bất chợt gặp lại thầy tôi sau bao nhiêu năm cách biệt vì chiến tranh không biết chết sống thể nào, thời thơ ấu trong một khoảnh khắc tràn ngập thần trí bác Giám tôi, và buộc bác phải gọi thầy tôi đúng như đã gọi từ thời xa lắc xa lơ khi còn nhỏ.

Sau khi gọi tên thầy tôi như thế, bác bắt đầu khóc hu hu như một đứa trẻ. Có lẽ trong khoảnh khắc đó bác đột ngột quay về cả một quá khứ dài của cuộc đời, trong đó có việc bác giao phó anh Phạm Phú Kỳ con trai duy nhất của bác cho thầy tôi nuôi nấng và dạy dỗ để đến năm 1947 anh Kỳ đã thành một thanh niên đầy chí khí coi cả một kỳ bộ (Trung Bộ) của Việt Nam Quốc Dân Đảng và đã bị phe cộng sản thủ tiêu tại Quảng Huế, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

Buổi chiều tối hôm đó tôi đã chứng kiến cảnh hội ngộ của hai anh em ruột gặp lại nhau sau mười năm dài của cuộc chiến, với bao cảnh tang thương. Tôi hiểu nhưng không thể sống thực nỗi đau đớn của bác Giám tôi lẫn của thầy tôi, vì tôi biết thầy tôi thương anh Kỳ còn hơn con ruột, coi anh như một tác phẩm tuyệt vời qua sự nuôi dạy của chính mình, như lời tâm sự của thầy tôi với tôi về sau này.

Anh Phạm Phú Kỳ

Tôi muốn tạm ngưng các dòng ký ức về cuộc sống tại Đông Bàn khi cả gia đình đã quy tụ về đây sống với ông nội và cô Tư vào năm 1945. Tạm ngưng để nói về một nhân vật đặc biệt là anh Phạm Phú Kỳ, một người anh họ của chúng tôi.

Ông nội của tôi có sáu người con, ba trai và ba gái. Người con trai đầu là bác Giám Kiều, tức là Phạm Phú Kiều, bác có đông con nhưng chỉ có một người con trai là anh Phạm Phú Kỳ, khi nhỏ tôi gọi anh là anh Tám, người lớn thì gọi là Tám Kỳ, chắc anh là con thứ tám của bác Giám tôi. Gia đình bác Giám tôi ở ngay gần chợ Quảng Huế, huyện Đại Lộc, nơi bác mở cửa hiệu làm ăn buôn bán.

Tôi không biết đích xác anh Kỳ sinh năm nào, nhưng có thể phỏng đoán là vào khoảng 1920. Đó cũng là năm thầy (cha) tôi đậu bằng diplôme và bắt đầu vào nghề giáo. Theo thầy tôi kể thì cả cuộc đời đi học của anh Kỳ là do thầy tôi lo hết : từ lúc bắt đầu đi học tiểu học là đã ở với thầy mợ tôi, cho đến hết bậc tiểu học, có lẽ vào những năm đầu của thập niên 1930. Sau đó anh học Trung học, có lẽ tại Huế, sau khi tốt nghiệp Trung học đệ nhất cấp với mảnh bằng “Diplôme” như cách nói thời đó, anh bắt đầu đi làm –có lẽ làm công chức bậc trung cho guồng máy cai trị của Pháp. Theo cách kể chuyện của thầy tôi, thì tôi hiểu thầy tôi thương anh Kỳ lắm, xem anh như một tác phẩm hoàn hảo nhất mà chính thầy tôi đã đào tạo được trong đời mình : thông minh, lý tưởng, đầy chí khí.

Nhưng đó chỉ là cách tôi (sinh năm 1938, nhỏ hơn anh Kỳ gần hai thập niên) sắp xếp thời gian cho đời anh Kỳ thôi, những gì tôi biết cụ thể về anh chỉ dần dần hiện ra từ nửa sau thập niên 1940. Tôi nhớ thời kỳ đó thầy tôi vẫn còn làm hiệu trưởng trường Tiểu học Bình Sơn, Quảng Ngãi, thỉnh thoảng anh Kỳ ghé về thăm là một dịp vui mừng rộn rã của anh chị em tôi. Tôi nhớ người anh dong dỏng cao, nước da trắng, anh dạy cho anh chị em tôi rất nhiều bài hát Hướng đạo nặng tình yêu nước, chẳng hạn :

Hùng khí ngàn năm không bao giờ tàn

Thân nam nhi chí khí

Hùng khí ngàn năm không bao giờ tàn

Thân nam nhi bền ghi

………..

Rồi cách mạng tháng Tám xảy ra, làng tôi như bừng lên với một sức sống mới. Những người dân quê nghèo hèn và dốt nát từ bao đời bỗng như ý thức mình là chủ của làng này, họ tham dự mít tinh, họ hoan hô đả đảo, gặp nhau trên đường làng họ giơ nắm tay ngang mang tai để chào nhau, họ tổ chức canh gác ban đêm và bắn tiếng đến những “nhà ngói” là cũng có bổn phận canh gác như họ… Đó là không khí cách mạng do đảng cộng sản mang lại.

Sau này lớn lên tôi mới biết tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng rất mạnh tại Quảng Nam trong cùng thời kỳ đó. Rất đông những người có học thức là đảng viên Quốc Dân Đảng, ngay anh Bốn của tôi tuổi 15, 16 đang học ở Hội An cũng biết vẽ cờ Quốc Dân Đảng trong tập bài hát của anh. Riêng tôi mới bảy tám tuổi đi học trường làng chưa có ý thức gì về sự chia rẽ đảng phái trong làng tôi, chỉ biết một dạo đám bạn học của tôi mỗi lần đi học về ngang nhà tôi đều cùng nhau hô : Đê đê Cu Dê Đê ! (nói tắt chữ đầu của Đả đảo Quốc Dân Đảng). Dĩ nhiên tụi nó cũng chẳng biết ý nghĩa của việc tụi nó làm, mà chỉ hô theo cách chỉ dẫn của cán bộ Việt Minh thôi. Nhưng tôi cũng cảm nhận được có sự căng thẳng giữa “nhà tranh” và “nhà ngói” trong làng.

Một buổi tối chắc là do sự yêu cầu của thầy tôi, người ta tổ chức một cuộc nói chuyện của thầy tôi với dân làng tại điếm canh của xóm tôi. Tôi chạy ra coi thì thấy điếm canh thắp nhiều đèn sáng, thầy tôi ngồi xếp bằng trên một tấm phảng ở gian giữa, dân làng bu quanh điếm canh rất đông để nghe. Tôi đứng ngoài đường nhìn vào thấy thầy tôi đang nói chuyện nhưng không nghe rõ lời, chỉ thấy thầy tôi rất ung dung hết xoay qua phải lại xoay qua trái để nói chuyện với mọi người đang im phăng phắc lắng nghe. Sau này lớn lên tôi không bao giờ hỏi thầy tôi đã nói những gì trong đêm ấy, nhưng tôi đoán thầy tôi đã nói về nhiệm vụ của ông về giáo dục trong cuộc kháng chiến khó tránh được với Pháp sắp tới.

Vào một buổi tối có trăng mùa hè năm 1946, trong lúc bọn trẻ con chúng tôi đang chơi đùa ngoài sân thì thấy có một người ăn mặc hơi rách rưới, vai đeo một cái túi vải từ ngoài ngõ bước vào. Xúm lại nhìn, cả bọn tôi la lên vui mừng : “Anh Tám ! Anh Tám !” Cô Tư tôi từ trong nhà vụt chạy ra bịt miệng chúng tôi : “Không được la ! Không được la !” rồi dắt anh Tám Kỳ vào nhà. Thì ra anh Tám là yếu nhân của Việt Nam Quốc Dân Đảng (lúc đó anh là người đứng đầu của Trung Kỳ Bộ của đảng) đã bị chính quyền Việt Minh bắt mấy tháng nay không biết giam giữ ở đâu, nay mới được thả về, và anh về thẳng Đông Bàn.

Nhưng không ai ngờ chỉ hơn nửa năm sau, anh Kỳ đã bị Việt Minh thủ tiêu. Sau hiệp định Genève 1954 Việt Nam chia làm hai miền Nam Bắc với hai chế độ chính trị khác nhau, chúng tôi lại về thăm làng cũ Đông Bàn. Tôi đã gặp bác Giám Kiều tại đây, và nghe bác kể : “Từ cuối năm 1946 anh Kỳ của con về ở với bác tại nhà ở Quảng Huế, với gia đình riêng của anh gồm vợ và con trai mới sinh. Vào đầu năm 1947, một buổi tối có hai cán bộ Việt Minh đến nhà mời anh Kỳ đi họp. Bác lo lắm, nhưng thời đó cũng hay có việc họp hành luôn luôn. Anh Kỳ cùng ra đi với hai người kia. Khoảng hai mươi phút sau, bác nghe tiếng anh Kỳ la lớn vọng qua đêm tối : “Cậu ơi ! Cậu ơi !” (anh Kỳ gọi cha mẹ là cậu mợ). Sau đó là bặt luôn, không bao giờ nghe lại tiếng anh, không bao giờ gặp lại anh.” Nghĩa là anh Kỳ đã bị Việt Minh giết ngay trong đêm đó, tại một nơi không xa nhà của bác tôi. Tiếng la của anh không phải là một tiếng kêu cứu, mà là một tiếng báo cho cha biết là mình đang bị giết.

Hai tiếng “Cậu ơi !” của anh Kỳ kêu cha trong giây phút cuối cùng của đời mình ám ảnh tôi suốt đời. Lúc đầu đó là tiếng kêu thảm thiết của một người con báo cho cha mình biết là người ta đang giết mình, rồi theo năm tháng nó dần dần biến thành một loại tiếng kêu của người quốc gia trước sự tàn sát của người cộng sản.

Kể từ khi người Pháp hoàn tất công cuộc đô hộ của họ tại Việt Nam vào hậu bán thế kỷ 19, các phong  trào chống đối Pháp của người Việt Nam yêu nước nổi lên liên tục trên khắp mọi miền, từ các cuộc khởi nghĩa võ trang đến các vận động tinh thần như phong trào Đông du, và các nhân vật cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… cho đến cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng vào cuối thập niên 1920. Một đặc điểm của các phong trào này là không bao giờ chống đối nhau, nếu không nói là ngầm yểm trợ cho nhau.

Nhưng khi phong trào cộng sản quốc tế bắt đầu chính thức hoạt động tại Việt Nam thì tình hình đổi khác. Tổ chức này có nguồn gốc không phải là Việt Nam, mà là một tổ chức quốc tế, đầu não nằm tại nước Nga. Cộng Sản quốc tế với tư tưởng duy vật, có một đường lối hoạt động riêng chống lại chủ nghĩa tư bản mà họ cho là nguồn gốc của sự bóc lột con người, và qua đó ủng hộ công cuộc giải phóng các nước thuộc địa do các nước tư bản lớn chiếm cứ. Xuất hiện tại Việt Nam từ thập niên 1930, đảng cộng sản có cách hoạt động rất mạnh mẽ vừa nhằm giải phóng giai cấp công nhân và dân nghèo bị bóc lột nói chung, vừa chống thực dân Pháp là nước đang đô hộ Việt Nam. Khác với các đảng phái quốc gia (không cộng sản) trước đó, đảng Cộng sản Việt Nam tự cho mình là lực lượng cách mạng chính yếu  tại Việt Nam, có vai trò lãnh đạo duy nhất cho công cuộc giải phóng Việt Nam. Khẳng định điều đó, người cộng sản một mặt tuyên truyền thu hút nhân sự của các đảng phái quốc gia, một mặt ra sức khủng bố tiêu diệt các đảng phái này. Từ đó gây ra sự thù hận giữa các đảng phải quốc gia và cộng sản, dù là cùng một mục tiêu trước mắt là đuổi người Pháp để giành độc lập cho Việt Nam, nhưng lại tiêu diệt lẫn nhau trong một đấu trường có tên mới là trận chiến quốc cộng.

 

 

*

Sau đình chiến 1954, thầy tôi lại tiếp tục nghề dạy học tại Hội An. Cuộc đình chiến và chia đôi đất nước đã bày ra một thời cuộc mới cho cả hai vùng Nam Bắc. Phía Bắc, phe cộng sản bắt đầu quản lý các thành phố lớn vốn vẫn thuộc phe quốc gia và Pháp. Phía Nam phe quốc gia thu hồi những lãnh thổ thuộc quyền của Việt Minh trong cuộc kháng Pháp : phía Nam của tình Quảng Nam, và các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên v.v… Tại Quảng Nam, sau đình chiến số học sinh của các vùng Việt Minh kiểm soát trước kia đổ dồn về các thành phố Hội An, Đà Nẵng để tiếp tục việc học rất đông, các trường công lập không đủ chỗ, hàng loạt trường tư được thành lập để đáp ứng với nhu cầu rất lớn về việc học hành của con em trong tỉnh. Tại Hội An có trường trung học tư thục Diên Hồng thành lập đáp ứng đúng nhu cầu học vấn của đông đảo học sinh vào thời điểm ấy. Hiệu trưởng của trường Diên Hồng là thầy Nguyễn Đình Thống, thầy tôi tham gia dạy môn Việt Văn và Sử cùng với các thầy giỏi khác như Phan Khôi, Phan Thiệp, Phan Biển, Nguyễn Ánh Anh, Trương Duy Hy… Chỉ năm đầu khi trường Diên Hồng có tới lớp Đệ Tứ, kỳ thi Trung học Đệ Nhất Cấp cuối năm học 1957-1958, tại trung tâm Đà Nẵng, học sinh trường tư thục Diên Hồng đã chiếm một dọc từ Thủ Khoa đến người đậu thứ 5, qua mặt các trường công lập lớn Phan Châu Trinh ở Đà Nẵng và Trần Quý Cáp ở Hội An.

Niên khóa đầu tiên thầy tôi dạy ở trường Diên Hồng là 1956-57, lúc bấy giờ trường mới có đến lớp Đệ Ngũ. Niên khóa đó, vì tôi đã bị đuổi khỏi trường Trần Quý Cáp từ giữa năm 1956, nên tôi tự học chương trình lớp Đệ Tứ ở nhà để đi thi Trung học vào cuối năm (vụ bị đuổi học tôi sẽ viết trong một chương khác). Thầy tôi, tôi và Lợi đều trọ trong nhà của anh Ba Râu (Phạm Phú Kiệu), một căn nhà nhỏ xíu đối diện với giếng Bá Lễ, một cái giếng nổi tiếng là nước tốt nhất Hội An. Nhà đã nhỏ lại thêm một thiếu niên giúp việc tên Ẩn từ Đông Bàn xuống để lo việc chợ búa bếp núc cho chúng tôi. Thế mà một năm trôi qua rất êm đềm, tôi tự học mọi môn, trừ Pháp văn học với thầy tôi, cuối năm đi thi tại trung tâm Đà Nẵng cũng đậu được thứ 7 với hạng Bình Thứ. Niên khóa kế 1957-58, tôi mang mảnh bằng ấy đến ghi danh vào lớp Đệ Tam C trường Petrus Ký ở Sài Gòn, được nhận ngay.

Khi tôi rời khỏi Hội An đi Sài Gòn thì vào niên học kế tiếp, thầy tôi và Lợi cũng rời nhà anh Ba Râu để đến trú ngụ ngay một phòng trên lầu của trường Diên Hồng.

Cơ sở của trường là một cái chùa Tàu lớn thờ những nhân vật có vẻ huyền thoại của người Tàu chứ không phải thờ Phật, ngoài ngăn giữa nằm sâu vào bên trong có đặt bàn thờ, còn lại là bốn phòng rộng rãi có thể làm phòng học. Thầy tôi ở trong một phòng trên lầu, rộng rãi, thoáng mát. Ông ở khá lâu tại đây cho đến khi Lợi tốt nghiệp Sư phạm, sắp về dạy tại trường Trần Quý Cáp và sắp cưới vợ, ông mới rời bỏ chùa Tàu để thuê nhà trong phố. Cũng bắt đầu từ thời gian này thầy tôi ngưng việc dạy học vì tuổi đã cao, nhưng lại được bầu làm chủ tịch Hồng Thập Tự tỉnh Quảng Nam, chuyên lo việc phân phối những vật phẩm cứu trợ cho đồng bào nạn nhân chiến tranh và thiên tai trong tỉnh.