Saturday, June 2, 2018

Một cuốn sách của tình bạn


Buổi sáng ngày 31 tháng 5, 2018, tôi nhận được điện thoại của anh Nguyễn Tường Giang mới từ Washington DC qua Nam California, hẹn gặp nhau để tặng tôi một cuốn sách mới vừa in xong. Tôi hơi ngạc nhiên, hỏi lại “Gần đây tôi không nghe anh nói có viết lách gì mới, thế mà bây giờ...” Giang hiểu ý, bật mí một chút “Công trình của ba người...”

Tôi hiểu ngay ba người ấy là ai. Đúng 12 giờ trưa chúng tôi gặp nhau tại tiệm ăn, việc đầu tiên của tôi là cầm quyển sách, bìa trình bày rất cốt cách với nền là một bức tranh màu xám nhạt với chữ ký rất quen thuộc đối với tôi : Đinh Cường. Đinh Cường là một trong ba tác giả của cuốn sách này --một tác giả vắng mặt-- hai người còn lại là Nguyễn Mạnh Hùng và Nguyễn Tường Giang.

Cuốn sách chia làm ba phần.

Phần đầu đăng năm truyện ngắn do Nguyễn Mạnh Hùng dịch từ các tác giả nước ngoài, chiếm số trang nhiều nhất, 148 trên tổng số 277 trang của cuốn sách. Chắc vì lý do này mà sách mang tên Truyện Tình, gồm năm truyện của Ivan Klima (Tiệp Khắc), Gabriel Garcia Márquez (gốc Columbia), Orhan Pamuk (Thổ Nhĩ Kỳ), Colm Tóibín (Ái Nhĩ Lan), Nicole Krauss (Mỹ), toàn là các danh tác quốc tế. Theo Nguyễn Tường Giang, năm truyện ngắn trong tập sách này là nguồn cảm hứng cho anh viết những bài thơ riêng tặng bạn, và là những cảm xúc để Đinh Cường đưa màu sắc và hình tượng vào tranh.

 Tranh Đinh Trường Chinh

Trong Lời Mở Đầu của phần này, dịch giả Nguyễn Mạnh Hùng bắt đầu bằng câu : “Cuốn sách nhỏ này là việc thực hiện muộn lời hẹn với một người bạn đã mất.” Người đó là Đinh Cường, đến Mỹ năm 1989 và trở thành bạn thân của Nguyễn Mạnh Hùng và Nguyễn Tường Giang “chơi thân với nhau một phần vì chúng tôi hợp tính và đồng cảm, phần khác vì chúng tôi ở gần nhau, trong một quận phía Bắc bang Virginia.” Chính Đinh Cường vì thích các truyện dịch của Nguyễn Mạnh Hùng đã nảy ra ý tưởng “Sao ông không chịu khó dịch khoảng năm truyện thôi, gộp với thơ của Giang và tranh của tôi, in thành sách ... Để ba đứa chơi chung ấy mà.” Đinh Cường qua đời ngày 7 tháng 1 năm 2016.

Phần hai gồm 10 bài thơ của Nguyễn Tường Giang sáng tác trong nhiều năm qua. Trong lời nói đầu của phần này nhan đề “Những Bài Thơ Viết Riêng Cho Bạn” Nguyễn Tường Giang cho biết trong hoàn cảnh nào ba người gặp nhau và trở thành bạn thân : “... Nguyễn Mạnh Hùng đã trở lại ngành giáo dục, giáo sư của một trường đại học lớn trong vùng và hay làm gạch nối để tổ chức những chương trình văn hóa đa dạng và nhất là nhiều buổi triển lãm tranh tại một cơ sở của trường đại học, trong đó có nhiều cuộc triển lãm tranh của Đinh Cường, và tôi, cũng chỉ như một người khách lạ đến xem tranh, đã từ đó gặp gỡ và làm quen với hai người bạn mới, Đinh Cường và Nguyễn Mạnh Hùng.”
Tình cờ trong 10 bài thơ này có bài Đêm Nghe Người Chơi Đàn Contrebasse, Tặng Nguyễn Mạnh Hùng/nhớ tranh Đinh Cường, mà kẻ viết bài này đã có một ít nhận xét trong một bài viết cách đây sáu năm, như sau :

 Contrebasse 1 - Đinh Cường

Chúng ta rất nhiều lần bắt gặp Nguyễn Tường Giang nói về và nói với bạn bè qua những lần nâng cốc rượu, những lần ngồi quán cà phê, với các rung cảm rất “đời thường”, có thể nói đó là các thú vui dù là ít ỏi, điều không hề thấy trong dòng thơ trước 1975. Diễn tả tiếng đàn contrebass trong quán rượu qua câu thơ như thế này có thể nói là tài tình:

Bứng bừng bừng, bứng bừng bừng
bứng bừng bừng
bứng bừng

Và từ những tiếng tượng âm giàu nhục cảm như thế, tác giả viết tiếp

Tôi ngồi với em trong quán rượu
nghe tiếng đàn
thèm ngất ngây đôi môi ẩm thuốc
đầu vú ngực căng

Tất nhiên thôi, và hai người bạn được tác giả tặng bài thơ này hẳn nhiên cũng đã chia sẻ cái không khí của quán rượu “đêm mùa hè nhễ nhại mồ hôi” có ánh đèn “đỏ như máu” với tiếng đàn contrebass bừng bứng bưng đầy thôi thúc.
Đó là một tiếng nhạc. Và đây là một điệu nhảy. Ai đã từng đến Tây Ban Nha và thưởng thức vũ điệu flamenco nổi tiếng của xứ này đều đồng cảm với tác giả

Tôi nhớ Sevilla
         người vũ công nhẩy flamenco
đôi môi hé mở
như một nụ hoa
mắt long lanh hoang dại
và những giọt mồ hôi/hay nước mắt
         chẩy hoen bụi phấn hồng
Nhịp giầy trên sàn gỗ
        bụi bay mờ
           tiếng vỗ tay rồn rập
                 váy muôn màu bay lượn mộng du
                       mù mờ cơn mộng mị
                            tan vỡ cuộc tình xưa

Điệu nhảy flamenco trên sàn gỗ là một hình thái nghệ thuật truyền thống của người Tây Ban Nha, trong đó người nghệ sĩ đàn (ghi ta) cũng như người nhảy đều gần như trong trạng thái lên đồng, cực tả những nỗi thảm thiết không tên, chỉ có thể gọi là “mù mờ cơn mộng mị/tan vỡ cuộc tình xưa” như tác giả cảm nhận một cách chính xác. Với một khả năng phong phú sẵn có, trước nghệ thuật Nguyễn Tường Giang đồng cảm rất nhanh, dù đó là nghệ thuật của trời đất (màu lá thu), hay là tiếng đàn, điệu nhảy.” (Phạm Phú Minh - Tĩnh Lặng, Khói Hồ Bay).



Phần thứ ba là... phòng triển lãm tranh Đinh Cường. Chúng ta được thưởng thức 23 bức tranh do họa sĩ Đinh Trường Chinh con trai của Đinh Cường chọn lựa. Tôi ngạc nhiên và thích thú trước một loạt năm bức khỏa thân rất đẹp, một đề tài lần đầu tiên tôi được xem của tác giả này. Các bức tĩnh vật vẽ hoa và bốn bức vẽ nhạc khí đại hồ cầm tôi gặp lại như những người bạn xưa, vì trước kia Đinh Cường thưởng gửi hình chụp các tác phẩm thuộc đề tài này cho tôi để giúp làm bìa hay minh họa cho báo Thế Kỷ 21 mà tôi phụ trách.

Bài viết ngắn trong sách của Đinh Trường Chinh “Ngọn Lửa Nhỏ Cuối Mùa Đông” là một lời thay mặt bố, bên cạnh một số họa phẩm rất tài hoa của chính mình. Trường Chinh viết :

“Với riêng tôi, cuốn sách này là một cuộc chơi giữa ba người bạn: Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Tường Giang, và Đinh Cường. Chơi mà không phải chơi. Nó ghi lại phút sáng tạo nghiêm túc của những tâm hồn mẫn cảm, đôi khi, quá mẫn cảm, với đời sống này. Nếu được xuất hiện riêng bằng sáng tác của mình, có lẽ mỗi người đã xuất hiện với một khí hậu khác. Nhưng đây là sự ghi nhận tinh thần chung bằng những gì có thể làm với nhau, từ sự thiếu vắng của một người. Những bài viết, bài thơ, truyện dịch, tranh... trong tập sách này là sự sẻ chia đó, và nó như một ngọn lửa thắp cho Đinh Cường. Một việc làm thật đẹp mà chỉ có được từ những người bạn đúng nghĩa.”

*

Tình bạn Hùng-Giang-Cường có một điểm độc đáo là đã thành hình khá trễ trong cuộc đời của họ, đại khái là vào trên dưới tuổi năm mươi của mỗi người. Ở tuổi đó con người đã điềm đạm không còn sôi nổi về tình cảm như tuổi hoa niên. Các ảo tưởng hầu hết đã qua, họ đã thấu hiểu các giá trị của đời sống, những gì họ hợp ý với nhau đều mang tính chất già dặn của kiến thức và chín muồi trong cảm nhận. Tôi hình dung tình bạn của họ khá dung dị, họ đã qua thời mang những lý tưởng ồn ào, rất thoải mái cùng nhau thụ hưởng các thú vui của đời sống, tìm ăn những món ngon, thưởng thức hương vị của những ly rượu lâu năm, cùng nhau đi nghe nhạc xem tranh, thích bàn luận đủ thứ chuyện trên đời quanh bàn cà phê, hoặc cầu kỳ hơn, kéo nhau qua la cà trên các đường phố Paris là nơi họ đã bị mê hoặc trong khí hậu văn hóa thời trẻ tuổi ở Việt Nam...

Và có lẽ chính vì gặp nhau trễ mà họ lại sớm nếm trải sự buồn bã của tử biệt... Cuốn sách được thực hiện khi một trong ba người không còn nữa càng tô đậm cho tình bạn của họ, khi tên của cả ba người được in thành một nhóm thân mật trên bìa sách như là đang cố gắng quây quần với nhau mãi mãi, giống như trong một “truyện cổ tích vừa mới xảy ra”.

2-6-2018
PPM




Friday, April 20, 2018

ĐỌC BỘ HỒI KÝ ‘THỜI ĐẠI CỦA TÔI’ CỦA GS VŨ QUỐC THÚC


Trong năm 2010 này, nhà xuất bản Người Việt đã phát hành một lúc hai tác phẩm mang tên chung là Thời Đại Của Tôi của giáo sư Vũ Quốc Thúc, cuốn I có tên riêng là Nhìn Lại 100 Năm Lịch Sử, cuốn II là Đời Tôi Trải Qua Các Thời Biến.



Cuốn thứ nhất, Nhìn Lại 100 Năm Lịch Sử, dày hơn 400 trang hẳn nhiên là một cuốn sách về lịch sử, nhưng được tác giả khẳng định không phải là một thiên khảo luận về lịch sử Việt Nam, cũng không phải là một luận đề về chính trị hay xã hội học, mà chỉ là một bản tóm lược những điều mà tác giả thâu thái được trong khi cố gắng tìm hiểu về thời đại của mình. Không kể phần Phụ Lục, sách chia ra làm năm hồi: Hồi thứ nhất: Việt Nam dưới chế độ thuộc Pháp; hồi thứ hai: Việt Nam trong cuộc thế chiến 1939- 1945; hồi thứ ba: Việt Nam tranh đấu giành lại độc lập; hồi thứ tư: Việt Nam trong cảnh qua phân lãnh thổ; hồi thứ năm: Việt Nam tái thống nhất dưới chế độ Cộng sản. Trong mỗi hồi, tác giả chia ra từng giai đoạn hay từng vấn đề để xem xét riêng rẽ, trong mục đích, như tác giả khẳng định từ đầu, là để cố gắng tìm hiểu thời đại của mình. Đó là những đề tài tác giả khai triển lịch sử phần nào theo cái nhìn riêng, cốt để nhấn mạnh đặc tính của giai đoạn đó mà không bị bóp méo đi như một số tài liệu khác. Nhìn chung, cuốn thứ nhất chính là cái khung thời gian và không gian cần thiết phải được giới thiệu trước để chuẩn bị cho cuốn sau trong đó tác giả kể những sự việc của đời mình qua từng giai đoạn. Đây là công việc phần nào mang đặc tính của một nhà giáo, rất sư phạm: đó là, trước khi kể chuyện đời mình, tác giả đã vẽ ra trước cho độc giả thấy cái bối cảnh rộng lớn làm nền cho cả tấn kịch đời của tác giả sẽ được kể trong cuốn II. Sự chuẩn bị đó rất cần thiết, có lẽ tác giả nhắm cho các thế hệ độc giả mai sau để hiểu được câu chuyện sẽ được kể trong từng giai đoạn lịch sử tương ứng với tất cả đặc điểm của nó.

Cuốn thứ hai với tên gọi Đời Tôi Trải Qua Các Thời Biến thì đích thực là một cuốn hồi ký. Về cái tên chung Thời Đại Của Tôi, theo tác giả là để xác định ranh giới cho cuốn sách, rằng đây là một cái gì “của tôi” chứ không phải là một cuốn lịch sử, đòi hỏi một quá trình làm việc rất khoa học và phiền toái của một sử gia. Trái lại tác giả chỉ chú trọng vào những phản ứng về mặt tâm lý và tinh thần mà các biến cố lịch sử gây ra trong tâm khảm của mình. Khoảng thời gian mà tác giả gọi là “Thời đại của tôi” để nhìn lại và suy ngẫm được ấn định là 90 năm, kể từ khi tác giả được sinh ra năm 1920 cho đến năm nay 2010, khi tác giả viết những dòng cuối cho cuốn sách này. Cuốn sách cũng được chia làm năm hồi. Hồi thứ nhất: trước khi Thế chiến II (1939- 1945) bùng nổ; hồi thứ hai: từ tháng 9 năm 1939, tức thời điểm xảy ra cuộc thế giới chiến tranh thứ 2, cho tới cuộc đảo chánh ngày 9 tháng 3 năm 1945 ở Việt Nam, ngày Nhật đảo chánh Pháp; hồi thứ ba: từ 9 tháng 3, 1945 tới hiệp định Genève ngày 20.7.1954, chia đôi đất nước Việt Nam; hồi thứ tư: từ tháng 7.1954 tới 30.4.1975, Việt Nam tái thống nhất do sự xâm chiếm của chế độ Cộng sản Việt Nam; hồi thứ năm: Từ tháng 4, 1975 tới nay.
Đọc hết năm hồi này qua 700 trang sách, cảm tưởng đầu tiên của người đọc phải là ngạc nhiên về trí nhớ phi thường của tác giả. Ông bắt đầu viết thiên hồi ý này khá trễ, vào năm 1996 là lúc ông đã 76 tuổi, thế mà ông kể lại tường tận tỉ mỉ từ chuyện xa nhất như môi trường gia đình của ông từ ngày ông sinh ra, đến việc học hành, thi cử, ra đời làm việc, những biến cố trong đời..., không phải chỉ việc riêng của cá nhân ông, mà luôn luôn đầy những nối kết với xã hội, với môi trường thời đại, với vô số nhân vật đương thời. Đúng là những trang sách của ông đã tạo nên bức bích họa của thời đại ông, dù là thời ông còn nhỏ, hay thời kháng chiến của Việt Minh, lúc đi thi tiến sĩ và thạc sĩ bên Pháp, hoặc thời giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền miền Nam, hay quãng đời sau 1975 đi tị nạn bên Pháp. Giai đoạn nào ông viết cũng đâu ra đấy, sự việc nào cũng đầy đủ đầu đuôi gốc ngọn, chuyện cá nhân và chuyện thời đại xen kẽ, đan kết nhau, bổ túc cho nhau để làm nên một bức tranh hoàn chỉnh. Đây không phải là những trang hồi ký để đề cao cái ta của tác giả, không, người đọc tuyệt nhiên không nhận thấy điều ấy, mà càng đọc càng say sưa vì các chi tiết sống động của xã hội đương thời mang đầy sinh khí cho mọi câu chuyện được kể. Đọc ông, người ta thấy rõ cái tinh thần đại học được thể hiện ở từng trang: uyên bác, tôn trọng sự thật đến tối đa, cộng với tài kể chuyện duyên dáng mà thành thật, khiến cho người đọc dễ dàng cảm thấy một niềm tin cậy, khiến cái ông gọi là “thời đại của tôi” biến thành “thời đại của chúng ta” lúc nào không hay. Biến cái riêng của mình thành cái chung của mọi người, đó là sự lớn lao của cuốn hồi ký này. Lời kể của ông đã phản ảnh cả một thời đại trong đó cuộc đời ông đã trải qua, đó cũng là thời đại chứa đựng cuộc đời của hầu hết chúng ta hôm nay, đọc ông chúng ta sẽ đồng cảm với ông, và sẽ thầm cám ơn ông đã nói hộ cho chúng ta vô số điều mà ta không đủ điều kiện để biết hết.
Trước hết cuốn hồi ký này đã cống hiến cho người đọc rất nhiều tư liệu về văn hóa Việt Nam. Chỉ nội một chương đầu tiên, có tên là Môi Trường Gia Đình, chúng ta được biết nhiều điều về thành phố Nam Định từ cổ truyền cho đến khi thuộc Pháp, sự buôn bán làm ăn ở đó, cư dân và truyền thống văn học khoa cử của đất thành Nam v.v...; từ thông tin gia đình ông vốn trước kia họ Phạm, từ thế kỷ 17 đổi sang họ Vũ, chúng ta được đọc hầu như cả một thiên khảo cứu về việc đổi họ ở nước ta; từ một chi tiết “truyền thống thờ tổ tiên của gia đình tôi” chúng ta được biết buổi lễ học vỡ lòng cuốn Tam Tự Kinh của tác giả đã xảy ra như thế nào, tinh thần Nho giáo “quỷ thần kính nhi viễn chi” đã khiến thân phụ của tác giả thờ ơ đối với mọi tôn giáo khác mà chỉ coi việc thờ cùng tổ tiên là vô cùng hệ trọng ra sao. Với cung cách nghiên cứu đại học, hầu như bất cứ việc nhỏ nhặt nào cũng được tác giả trình bày đến tận nguyên ủy. Chỉ riêng về khía cạnh văn hóa, độc giả có thể học từ cuốn sách này vô số điều.
Giáo sư Vũ Quốc Thúc, là một nhà khoa bảng lớn của Việt Nam, ông đã đậu Tiến sĩ Luật và Thạc sĩ Đại học Kinh tế tại Pháp. Cuốn hồi ký đã cho thấy truyền thống học vấn sâu dày của tổ tiên đã ảnh hưởng đến sự thông minh, tính kiên trì nhẫn nại cùng ý chí học hỏi nơi ông lớn lao ra sao. Nhưng điều đáng phục nơi ông là khả năng “tri hành hợp nhất” mà ông đã thi thố với đời, đem kiến thức khoa bảng vào việc xây dựng cho đất nước Việt Nam. Chương 5, kể chuyện tác giả về dạy ở trường Luật Hà Nội năm 1951 là một chương đầy thú vị, cho thấy sự “quật khởi” của một trí thức trẻ Việt Nam trước tinh thần thực dân của những ông khoa bảng Pháp. Tác giả, với học vị, với tinh thần sòng phẳng trong Thỏa Hiệp Văn Hóa mới ký kết giữa Pháp và Việt Nam, đã cứng cỏi dẹp tan những lấn lướt cố hữu của người Pháp, từ việc giữ vững vị trí Giám Đốc trường Luật Hà Nội của mình đến việc tranh đấu về lương bổng bình đẳng giữa giáo sư người Pháp và người Việt.
Về sau, trong những năm đầu đầy khó khăn của chính quyền Ngô Đình Diệm ông đã thành công trong công tác thảo luận rất gay go với Pháp và hai nước Cam Bốt và Lào để giải tỏa các định chế cũ trong gần một thế kỷ cai trị của người Pháp ở Đông Dương, để thiết lập Viện Phát Hành tiền tệ, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, Viện Hối Đoái cho Việt Nam. Hình ảnh của ông đúng là một con người “kinh bang tế thế” mà chúng ta vẫn nghe thấy trong văn chương, và ông hoàn toàn xứng đáng với lời của TT Ngô Đình Diệm ngợi khen ông là một người “thao lược”, sau khi ông thành công trong công tác khó khăn này.

Sau tháng 4, 1975, tác giả đã trải qua những ngày bất an, thậm chí có thời gian ngắn bị bắt giam vì dự tính vượt biên. Cộng sản tiếp thu trường Luật, và trường Luật bị đổi thành trường Kinh tế. Chế độ toàn trị không cần tinh thần luật pháp cho xã hội, vì tinh thần ấy dựa trên những ý niệm căn bản về con người như chủ quyền cá nhân, sự bình đẳng, công bằng v.v... Những nguyên lý có tính vĩnh cữu như thế đã tạo ra những đạo luật tồn tại hàng thế kỷ trước đây, nay hoàn toàn không có giá trị đối với đảng cộng sản. Luật của họ dựa trên những nguyên lý khác, chỉ do đảng đặt ra, họ chỉ cần đào tạo một lớp người để thi hành và giữ gìn luật của riêng họ, không cần có một trường luật với môn luật học dựa trên những đặc tính bền vững của con người và xã hội con người. Hai mươi năm trước giáo sư Nguyễn Mạnh Tường ở miền Bắc đã nhân danh luật pháp lên tiếng về việc đấu tố trong cải cách ruộng đất, đã bị đảng triệt hạ, trừng phạt một cách thê thảm. Và nay, khi cộng sản tiếp thu trường Luật ở Sài Gòn, việc đầu tiên là họ cho nghỉ việc bốn giáo sư, trong đó có giáo sư Vũ Quốc Thúc.
Tuy nghỉ việc nhưng vẫn phải theo Khóa Nghiên cứu lý luận Mác Lê nin, và trong khóa này giáo sư Vũ Quốc Thúc đã một lần đụng độ về lý luận với một giảng viên từ ngoài Bắc vào, một hành động thời đó được coi là dũng cảm không ai dám làm, được nhiều người trong giới xem là “bảo vệ danh dự của trí thức miền Nam”. Kể lại chuyện này, tác giả cũng ý thức được sự nguy hiểm khi để lộ ra bất cứ sự bất đồng ý kiến nào với một chế độ độc tài, và biết rằng để sống yên trong một chế độ như thế, con người phải nghĩ một đằng nhưng nói một nẻo.
Phải nhận rằng tác giả có một số mạng rất may mắn. Dù là phải trải qua đủ thứ chế độ trên đất nước Việt Nam, mà sau hết là chế độ cộng sản đầy tệ hại, nhưng cuối cùng ông cũng thoát ra để tới được nơi an toàn. Chỉ ba năm sau 1975 ông đã được cùng gia đình xuất cảnh sang Pháp, do lời thỉnh cầu của chính Thủ tướng Pháp thời đó với ông Phạm Văn Đồng khi ông này sang thăm nước Pháp với tư cách là Thủ tướng Việt Nam. Qua đến Pháp giáo sư Vũ Quốc Thúc đã được bổ nhiệm dạy môn Kinh tế ngay tại đại học Paris 12,  làm đúng nghề sở trường của mình, không phải vất vả tìm kiếm việc làm khác. Qua thập niên 1980 ông lại bắt tay vào một số hoạt động để bênh vực cho thuyền nhân, và đặc biệt là cuộc vận động để vãn hồi Hiệp định Paris ký năm 1973, trong đó có sự tham gia của cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và nhiều nhân vật của Việt Nam Cộng Hòa. Năm 2000 ông tham gia việc công bố Hiến chương 2000 tại Paris. Và những trang chót của cuốn sách này ông đã dành để nói về việc vận động cho Việt Nam được hưởng quy chế Trung lập theo quốc tế công pháp. Tác giả Vũ Quốc Thúc kết thúc cuốn sách vào tháng 6 năm 2010, khi ở tuổi 90.

Như tác giả đã cho biết từ đầu, gia đình ông chỉ thờ cúng ông bà chứ không theo tôn giáo nào. Lúc trẻ, khi đứng trước trước các khó khăn bất trắc, có khi ông đi coi bói. Ông đã kể  lần đi coi bói tại Paris (và sau đó nhiều lần coi bói khác nữa) khi ông sang dự kỳ thi Thạc sĩ vào năm 1952, một bà đầm già tám mươi tuổi đã nhìn vào một quả cầu thủy tinh và mô tả cho ông những hình ảnh bà đã thấy trong quả cầu ấy. Bà ấy không khẳng định ông thi đậu hay rớt mà chỉ cho thấy hình ảnh của một buổi tiếp tân vui vẻ vào sau lễ Giáng Sinh năm ấy. Kết quả là ông đã thi đậu thạc sĩ và khi về đến Sài Gòn ông khoa trưởng trường Luật Khérian đã mở một buổi tiếp tân để chào mừng ông vào ngày đầu năm 1953, đúng như hình ảnh bà đầm mô tả. Ông đã trải qua nhiều trường hợp linh nghiệm trong bói toán, và ông suy ra rằng “quả thật trong đời có những yếu tố siêu hình chúng ta không thể xét đoán với con mắt trần tục (...) tuy nhiên có người nhìn được, Trời ban cho họ khả năng nhìn thấy những cái đó.”
Khuynh hướng dựa vào yếu tố siêu hình về sau đã trở nên mạnh hơn nơi tác giả khi nghịch cảnh trở nên quá nặng nề trong giai đoạn sống với cộng sản sau 1975: ông đã gần như dựa hẳn vào tôn giáo. Nhưng đó chưa phải là tín ngưỡng đích thực, mà chỉ là sự tìm kiếm, cầu xin một lối thoát giữa hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống: “Hằng ngày mặc dù không phải tín đồ Thiên Chúa Giáo, tôi đã đến nhà thờ Đức Bà. Tôi cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ xin Đức Mẹ run rủi cho gia đình tôi được thoát khỏi Việt Nam toàn vẹn.” Một lần nữa, tác giả lại “cầu được ước thấy”, rốt cuộc ông và gia đình đã được đi tị nạn bên Pháp. Từ việc tin vào bói toán, đến cầu xin một hình tượng tôn giáo để nhất thời tìm giải pháp cho những khó khăn của mình, những việc ấy chứng tỏ nơi tác giả có một tiềm năng tín ngưỡng, nhưng chỉ phát lộ ra dần dần từ thấp đến cao qua những lần dựa vào đó để mong tìm lối thoát cho những bế tắc cụ thể trong đời.

*

Cuốn hồi ký này đã cống hiến cho chúng ta hình ảnh một nhà trí thức luôn luôn tích cực với đất nước. Giáo sư Vũ Quốc Thúc là người học rộng, khoa bảng cao, điều đó ai cũng biết, nhưng ông xứng đáng với danh xưng là Trí Thức vì lúc nào ông cũng vận dụng hiểu biết của ông để làm những điều ích lợi cho quốc gia, lúc nào ông cũng dấn thân hết mình vào từng giai đoạn cụ thể của thời đại ông, không những đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của thời điểm đó, mà còn có khả năng nhìn vượt thời đại của mình để mưu cầu sự tốt đẹp cho một Việt Nam trong tương lai. Viết kể lại những hoạt động của đời ông là một việc cần thiết mà ông nên làm và đã làm, nhưng mặt khác, đọc kỹ những gì ông viết lại là điều cần thiết hơn đối với chúng ta hôm nay và cả con cháu của chúng ta mai sau nữa.

PXĐ
tháng 11, 2010



Saturday, January 20, 2018

Về một bài trường ca của Trần Văn Nam


Đến Mỹ vào cuối năm 1992, tôi vào làm việc với làng báo ngay, và dần dần làm quen với những khuôn mặt văn nghệ đang ở thủ đô tị nạn. Nhưng mãi hơn mười năm sau tôi mới “quen” với Trần Văn Nam. Tôi biết tên của anh qua một bài thơ anh gửi tới báo Thế Kỷ 21 mà tôi phụ trách. Một tác giả lạ, nhưng tôi bị bài thơ chinh phục ngay, đó là bài Ngược Dòng Vạn Dặm Trường Giang. Bài thơ mở đầu bằng câu

Dòng sông không phải bắt nguồn từ không gian

khiến tôi chưng hửng. Không phải bắt nguồn từ một nơi chốn nào đó trên mặt đất này thì từ đâu? Hay là tác giả muốn bắt chước sông của nước Tàu, “Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai”?

Nhưng chỉ cách mấy câu, tác giả đã giải thích :

Dòng sông bắt nguồn từ thời gian
Do tình thương quá khứ
Do muôn trùng kỷ niệm miên man
...
Và mạch thơ cứ thế tuôn trào liên tiếp thành một bài trường ca có thể nói là hùng vĩ, lạ lùng về con sông Mekong. Từ bài thơ này tôi thật sự quen biết Trần Văn Nam.

Rồi Trần Văn Nam, Thành Tôn, Trần Yên Hòa, Đạm Thạch và tôi thường hẹn nhau cùng đi uống cà phê, cứ hai tuần một lần tại Café Factory. Riết rồi thành thói quen, năm này tiếp nối năm kia, mười mấy năm trôi qua lúc nào không hay. Một sự kết hợp cũng tình cờ thôi. Tôi làm báo, và các bạn tôi là những người làm thơ, viết văn, thỉnh thoảng đóng góp bài vở và tài liệu cho báo của tôi.
Trần Văn Nam một người rất ít nói, càng không tranh luận với ai. Chỉ cười cười, xuề xòa. Như để bù vào sự ít lời ấy, anh viết rất chăm chỉ, hình như năng lực của anh thu vào nội tâm để rồi trào ra ngọn bút. Có vẻ ngôn ngữ chính của anh là ngôn ngữ viết. Hai cuốn sách “Trong Dòng Cảm Thức Văn Học Miền Nam - Phân Định Thi Ca Hải Ngoại” (554 trang, xuất bản 2006) và “Tiếp Nối Dòng Cảm Thức Văn Học Sau Năm 1975” (543 trang, xuất bản 2016) là hai cuốn sách nặng ký, tác giả đầu tư nhiều suy ngẫm văn học và triết học để viết nên.
Và anh làm thơ. Cuốn thơ “Một Đêm Cho Thơ, Tình Và Âm Nhạc” xuất bản năm 1991 với những vần thơ bảy chữ, tám chữ và lục bát, cảm hứng từ những buồn vui trong đời thường của cuộc sống quê hương hoặc trên đất nước tị nạn. Nhưng cũng từ đây, chúng ta thỉnh thoảng đã bắt gặp những tư tưởng lạ bắt nguồn từ triết học và khoa học, những đặc tính mà sau này tác giả thể hiện rất rõ trong thể loại trường ca, mà chúng tôi cho là một điểm độc đáo của Trần Văn Nam.

Trở lại bài thơ được nhắc đến ở đầu bài “Ngược Dòng Vạn Dặm Trường Giang” gồm 111 câu thơ theo thể điệu tự do, đi một hơi rất hào sảng từ đầu tới cuối, phải đọc độ mươi câu đầu mới biết “vạn dặm trường giang” mà tác giả nói đến ở đây chính là con sông Mekong mà người Việt gọi là sông Cửu Long. Độc giả có thể thắc mắc : chỉ có một con sông mà sao phải làm đến trên một trăm câu thơ ? Bài thơ gọi là Tràng Giang của Huy Cận (Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp...) chỉ 16 câu mà chứa biết bao là ý là tình. Rồi thơ và nhạc về các con sông Lô, sông Hồng, sông Đuống, sông Hương, sông Cửu Long... chỉ có chiều dài vừa phải, ngay cả bài hát Trường Ca Sông Lô của Văn Cao cũng không dài lắm, gồm năm tiểu đoạn kể cả đoạn nhập đề và câu kết thúc rất ngắn. Vâng, tình, ý ở đâu mà Trần Văn Nam viết 111 câu cho con sông Mekong ?
Câu trả lời là : Trần Văn Nam có một cách nhìn khác về con sông này.

Tất cả sẽ được kể từ dĩ vãng
Câu chuyện một dòng sông sẽ không đi về cửa biển
Chín Con Rồng sẽ bơi ngược tạm biệt trùng dương...

Câu chuyện kể bắt đầu từ “miệt dưới” là đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam

Dẫn khởi từ quê tôi có hàng dừa xanh trường cửu
Những đồng bằng cũng rợp bóng cò bay
Một đám dân hiền lành, có khi quả cảm
An phận đời nghe nước chảy đêm ngày...

Tác giả đã theo dòng sông đi ngược lên phía bắc, bắt đầu cuộc hành trình quốc tế của mình để diễn tả tính chất quốc tế của dòng sông. Đây là một công việc chưa có một nghệ sĩ Việt Nam nào làm, vượt khỏi những tình tự của hai con sông Tiền sông Hậu trên đất Việt Nam để đi “thám hiểm” phần còn lại của con sông Mekong chảy qua những nước nào, và qua đó, thấy một nối kết tinh thần rộng lớn của cả một vùng, mà tác giả gọi là Xuyên Á. Trạm đầu tiên là Cao Miên, đất nước áp chót mà con sông chảy qua trước khi ra biển.

Nước chảy mênh mông nước lên Biển Hồ
Đường chia đất đai, đường chia dân tộc
Những cuộc tranh hùng là xương trắng khăn sô

Nhưng nhà thơ khi lật qua các trang sử tranh hùng giữa hai nước Việt - Miên đã ao ước :

Hỡi bí mật Đế Thiên, hỡi linh thiêng Đồng Tháp
Nước của tình thương xuyên bao nhiêu thế kỷ ?
Vượt lên bao nhiêu cơ đồ ?
Hai dân tộc mong tìm đường thân thiện
Nhạc của đại hòa trên sóng nước mấp mô...

Rồi tiếp tục điệp khúc Xuyên Á, Xuyên Á, Trần Văn Nam ghé xứ Lào :

Triết lý cuộc đời sống thác bao năm
Dòng nước êm ru qua miền đất Phật
Mái chùa cong huyền ảo đêm rằm

Và Thái Lan, mà tác giả đánh giá là một “vương quốc hòa bình” :

Xuyên Á, Xuyên Á
Bên kia bờ là xanh xanh trùng điệp
Là vương quốc hòa bình phương Đông
Sông nước ngược xuôi kinh thành Vọng Các
Thành quách Hoàng gia trăng sáng mênh mông

Tác giả không quên nước Miến Điện với tình nghĩa Mekong dù dòng sông chỉ có khoảng vài trăm cây số phân chia ranh giới với Trung Hoa

Dòng nước chảy vào quốc gia Phật giáo Á Châu
Đi ngang qua khoảnh khắc
Mà lưu luyến tiếng kinh cầu

Tiếp tục điệp khúc Xuyên Á, Xuyên Á, tác giả đã đi đến quốc gia cuối cùng cực bắc có sông Mekong chảy qua. Đây là quốc gia lớn nhất, hùng mạnh nhất và cũng tham lam nhất trong các nước chia sẻ dòng Mekong. Sau khi ca tụng lịch sử nền văn minh Trung Hoa, Trần Văn Nam kết luận :

Nước ngược về đây tìm đường kết hợp
Nối với trời mây Đại Đông Á muôn trùng
Bởi vì đâu mà tranh chấp
Sao chẳng hòa đồng hát bản tình chung.

Cảm hứng từ một con sông xuyên đa quốc gia, Trần Văn Nam xây dựng một ý tưởng rất lớn. Khi viết câu Nước của tình thương xuyên bao nhiêu thế kỷ  Nam đã muốn dựa vào con sông đã nuôi sống bao nhiêu triệu dân suốt ngàn xưa cho tới nay để kêu gọi một liên kết văn hóa - kinh tế -chính trị cho cả một vùng châu Á mà con sông đã chảy qua. Dù là ý tưởng có phần lãng mạn của một thi sĩ, bài trường ca của Trần Văn Nam vẫn là một cái nhìn đẹp và tích cực về một dòng nước của tình thương. Những câu kết của bài thơ như một âu ca của cả một vùng châu Á trong vòng ôm của con sông mẹ tự bao đời :

Việt Nam là duyên hải
Ai Lao, Cam Bốt thành miền Trung
Miến Điện, Thái Lan sườn Tây vững chắc
Gió không nhà trên rừng lá cây rung

Dòng Mekong thông nguồn đi suốt tận
Trường giang ca trên sóng nước chập chùng...

Giờ đây Trần Văn Nam đã rời xa chúng ta để phiêu diêu trên sóng nước dòng sông yêu dấu, đem theo giấc mơ lớn của mình từ đầu nguồn đến cuối bãi, mơ rằng Cửu Long Giang sẽ kết nối được các dân tộc châu Á trong một cuộc sống Hòa Bình và Thương Yêu...

Ngày 18 tháng 1, 2018
Phạm Xuân Đài


Đến thăm Trần Văn Nam ngày 7 tháng 1, 2018,
từ trái : Trần Yên Hòa, Thành Tôn, Bs. Hoàng Xuân Trường,
Phạm Phú Minh, Nguyễn Mạnh Trinh.

   Các trao đổi cuối cùng giữa Trần Văn Nam (trên giường bệnh)
và Phạm Phú Minh ngày 7 tháng 1, 2018.
Ba ngày sau Nam qua đời, vào ngày 10-1-2018.