Sunday, September 24, 2017

Đọc sách: NHẬN ĐỊNH và những câu hỏi về MỸ THUẬT của TRỊNH CUNG


Trong cộng đồng người Việt tị nạn hải ngoại từ gần nửa thế kỷ nay vẫn có đủ loại sinh hoạt về văn hóa và văn học nghệ thuật của người Việt Nam. Chúng ta vẫn ăn Tết, vẫn mừng trăng mùa Thu với các em nhỏ, vẫn đi chùa lễ Vu Lan để nhớ ơn ông bà cha mẹ; chúng ta làm báo, xuất bản sách và ra mắt sách tiếng Việt; các họa sĩ vẫn vẽ tranh và triển lãm; các nhạc sĩ ca sĩ vẫn sáng tác và trình diễn, sản xuất đĩa ca nhạc ảnh hưởng không những đồng bào hải ngoại mà còn cả giới thưởng ngoạn trong nước...

Nhìn chung các sinh hoạt vừa kể, mảng hội họa tuy có mặt đều đặn nhưng không ồn ào năng động như các sinh hoạt khác. Xem tranh vốn là một công việc lặng lẽ, đứng trước một tác phẩm tạo hình, người xem cố nắm bắt vẻ đẹp cùng ngôn ngữ hội họa của họa sĩ tạo ra, khó chia sẻ cùng ai. Khai mạc một phòng hội họa khác với một buổi ra mắt sách. Với một tác phẩm văn chương hay khảo luận, ban tổ chức ra mắt sách có thể mời một số các bậc thức giả đứng ra giới thiệu tác phẩm, trình bày bằng lời nói những cái hay cái đẹp, cái cần thiết của nó. Với các tác phẩm hội họa, rất khó làm việc ấy, vì cái đẹp rất khó giảng giải, nó đến với một người qua sự cảm nhận nghệ thuật của người ấy, các lời lẽ của lý trí khó xen vào.

Cũng vì thế sách lý luận phê bình về văn chương học thuật thì nhiều, nhưng sách giảng giải về hội họa, và nói chung mỹ thuật, thì hiếm hoi. Cuốn sách Nhận định và những câu hỏi về Mỹ Thuật của Trịnh Cung mới xuất bản mùa hè 2017 thuộc vào loại hiếm hoi này.

Như nhan đề của nó, sách được chia làm hai phần: chương I là Nhận Định và chương II, Những câu hỏi về Mỹ Thuật.

Phần Nhận Định gồm những bài mang tính chất có thể là khảo luận, tùy bút, hồi ức, ký sự... nhưng nội dung đều nhằm trình bày những cái nhìn liên quan đến hội họa. Chúng tôi xin đề cập đến bài đầu tiên của phần này, có tựa đề khá dài “Sự phát triển của Văn Học và Nghệ Thuật khi thiếu tương hợp sẽ ra sao?”

Tác giả đã nêu ra một vấn đề khá thú vị, là sự tương quan giữa Văn Học và Nghệ Thuật (ở đây hiểu là nghệ thuật tạo hình), và chứng minh rằng văn và họa là hai môn khá mật thiết, cái này nâng đỡ cái kia để trở thành hay hơn, đẹp hơn. Quan sát sự phát triển của Tự Lực Văn Đoàn và các tờ báo của văn đoàn này là Phong Hóa và Ngày Nay trong thập niên 1930, tác giả đã tìm thấy một ví dụ rất thuyết phục cho nhận xét trên của mình :

“... Nhất Linh và nhóm TLVĐ không chỉ nhìn thấy khả năng làm đẹp của họa sĩ cho tạp chí Ngày Nay mà còn nhìn thấy mỹ thuật là một thế lực có thể làm thay đổi bộ mặt xã hội về văn hóa và văn minh nếu biết khai thác tiềm năng của nó. Tạp chí Ngày Nay trở thành bệ phóng tuyệt vời cho mỹ thuật Việt Nam khi tập hợp được gần như hầu hết các họa sĩ xuất sắc nhất thời ấy như Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Lê Phổ, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Cát Tường, Nguyễn Đỗ Cung... để cùng với các nhà văn, nhà thơ, kịch tác gia, nhạc sĩ... của TLVĐ làm cho cuộc cách mạng văn hóa bùng nổ và thành công vang dội.”

Nhiều người đã nhìn thấy giá trị mỹ thuật có tính cách mới mẻ và nổi bật trong cách làm báo của nhóm TLVĐ, nhưng hình như chưa có ai nêu lên sự tương tác lẫn nhau giữa văn chương và mỹ thuật đã tạo nên cảm hứng và nâng cao phẩm chất của mỗi bên như Trịnh Cung đã nhận thấy rất đúng trong trường hợp TLVĐ.

Cũng trong dòng cảm nhận ấy, tác giả Trịnh Cung đề cao vai trò của của tạp chí Sáng Tạo trong việc hướng dẫn việc tìm kiếm cái mới cho giới văn nghệ tại miền Nam sau 1954. Trịnh Cung và cả một thế hệ họa sĩ trẻ đã sống trong bầu không khí văn học nghệ thuật đầy sáng tạo ấy, và đã tạo lập nên sự nghiệp hội họa của mình.

Nhưng từ sau 1975 thì sự tương tác văn-họa ấy đã sụp đổ. Tác giả viết :

“Mọi tư duy văn học và mọi cảm hứng nghệ thuật đều nhất mực phải đi trên một đường ray do Đảng cầm quyền thiết lập chạy suốt từ Bắc đến Nam. Nền giáo dục xã hội chủ nghĩa kết liễu hoàn toàn nền giáo dục dân chủ, loại bỏ triệt để văn học và nghệ thuật tự do, đa nguyên.”




Một trang sách về Mai Trung Thứ

Tác giả cũng nêu ra tình trạng đáng lo ở phương Tây khi nền “tư bản thực dụng” đã lùa sinh hoạt hội họa vào trong một cái rọ, làm thui chột sức sáng tạo của người nghệ sĩ, dùng quảng cáo và khống chế mua chuộc giới phê bình để thao túng thị trường tranh.

“Cho đến khi những nhà trí thức Phương Tây từ triết gia cho tới nhà văn làm nổi bật sự vô giá của tác phẩm mỹ thuật bằng quyền lực của ngôn ngữ thuyết giảng, những doanh nhân mới đưa mỹ thuật vào tầm ngắm của họ. Vũ khí của họ là công nghệ quảng cáo và thế lực tài chánh. (...) Họa sĩ trở thành con bò tơ bị lùa vào thị trường mà giá cả luôn bị định đoạt bởi những nhà kinh doanh nghệ thuật với sự trợ giúp của ngành quảng cáo thượng thừa bùa phép.”

Đa số quần chúng không ở trong ngành hội họa có thể không hiểu hoạt động của dạng mafia này thực tế ảnh hưởng đến giới nghệ sĩ phương Tây đến mức độ nào, có điều kiện hóa, nô lệ hóa họ đến độ họ sáng tác hầu như dưới một hình thức đơn đặt hàng như dưới một chế độ độc tài :
“Riêng ngày nay, hay đúng hơn là từ cuối thế kỷ 20, khi Chủ Nghĩa Tư Bản Thực Dụng bành trướng ở phương Tây và Chủ Nghĩa Cộng Sản thống trị một số nước Phương Đông thì có một điểm khá giống nhau về lý do làm nên tình trạng hủy diệt sự tự do sáng tạo và tự do liên kết trí thức và nghệ sĩ.”

Chưa biết trong thực tế giới họa sĩ các nước phương Tây bị các thế lực này o ép đến mức độ nào, nhưng về phía người Việt Nam tị nạn, hy vọng các họa sĩ người Việt vẫn vẽ và triển lãm trong cộng đồng chúng ta sẽ không cảm thấy bị áp lực của cái lưới trời lồng lộng này.

Trong phần Nhận Định còn những bài viết về một số nhân vật thuộc giới nghệ thuật như Kiều Chinh, các họa sĩ Duy Thanh, Mai Trung Thứ, Thái Tuấn, các vấn đề như họa sĩ người Mỹ gốc Việt và “Dòng Chính Hoa Kỳ”, phê bình văn học và nghệ thuật của người Việt Nam. Các chân dung nhân vật được tác giả khắc họa linh động và gần gũi, nhất là khi đề cập khía cạnh nghệ thuật của họ tác giả đã có cái nhìn sắc sảo, cộng với rất nhiều hình ảnh về đời sống và tác phẩm của họ, khiến cho bài viết trở thành một mảng tài liệu rất quý cho lớp người nghiên cứu về sau.

Một trang về Nguyễn Gia Trí

Mở đầu chương II là một bài phỏng vấn họa sĩ Trịnh Cung, người đặt câu hỏi là Lê Đình Nhất Lang. Phải nói đây là một bài rất hay có tên gọi “Không Có Nền Nghệ Thuật Nào Bay Lên Chỉ Với Một Cánh”, mang lại cho người đọc nhiều hiểu biết thú vị lẫn thấm thía. Câu chuyện thời sự vào năm 2013, tỷ phú Leonard A. Lauder tặng bảo tàng Metropolitan Museum of Art một bộ sưu tập hội họa và điêu khắc trị giá 1 tỷ mỹ kim, đã khiến nhà báo Lê Đình Nhất Lang nảy ra ý thực hiện cuộc phỏng vấn về vấn đề thưởng ngoạn hội họa với họa sĩ Trịnh Cung.



 

Những trang viết về Paul Cézanne

Từ việc nhà tỷ phú tặng các tranh thuộc thời kỳ Lập Thể mà khi chúng mới ra đời quần chúng chưa hiểu và chưa mấy thích, người phỏng vấn đã nêu ra những câu hỏi như đứng trước một tác phẩm người xem có cần phải quan tâm đến yếu tố lịch đại để hiểu được, cảm được tác phẩm hay không, họa sĩ Trịnh Cung cho biết đó là điều cần thiết, vì “thời điểm ra đời của tác phẩm sẽ cho người xem biết nên dùng hệ quy chiếu nào để ‘đọc’ được nó. (...) Nghệ thuật mới sử dụng ngôn ngữ ẩn dụ và ngữ pháp khác thường nên không biết cách đọc thì chắc chắn người xem tranh sẽ thốt lên: Chẳng ra cái gì cả! Hoặc: Vẽ cái gì thế này?...” Đó là lời khuyên thiết thực chuẩn bị cho người xem tranh một số kiến thức tối thiểu, hoặc trang bị một thái độ sẵn sàng để hiểu được, cảm được tranh của một trường phái còn mới mẻ. Cuộc phỏng vấn kéo dài với nhiều vấn đề, và những câu trả lời đều chứng tỏ người được phỏng vấn có một kiến thức chuyên môn rất vững chắc. Câu chuyện dần dần dẫn tới tình hình quần chúng Việt Nam hiện tại không ham thích hội họa mấy, mà lý do theo họa sĩ Trịnh Cung là bắt nguồn từ nền giáo dục, khiến trong xã hội người vẽ tranh thì có mà người mua tranh thì vắng vẻ.

“Ý tôi muốn nói là một nền nghệ thuật phát triển phải có đôi cánh đều tốt. Hiện nay, nó chỉ có cánh sáng tác, đã đào tạo ra cả ngàn họa sĩ, nhưng cái cánh người xem thì ngày càng teo tóp, vậy lấy ai tiêu thụ những sản phẩm do phía họa sĩ làm ra? Người xem và mua tranh là một lực cân bằng và tác động rất lớn, có tính quyết định cho sự cất cánh của một nền mỹ thuật.

Đã không có người xem thì vở diễn phải dẹp và tất nhiên rạp hát phải đóng cửa, đó là thực trạng của thị trường mỹ thuật Việt Nam. Đây là chỗ phải giải của bài toán, và cách giải không có sự lựa chọn nào khác hơn là phải nhanh chóng thay đổi phương pháp giáo dục mỹ thuật cả từ các trường chuyên nghiệp lẫn từ bậc mẫu giáo đến trung học.”

Đó là những nhận định của một họa sĩ đã gần như suốt một đời sống và vẽ trên đất nước của mình, không những biết rõ mọi sinh hoạt nghệ thuật của xã hội Việt Nam mà còn là một người nặng ưu tư về nền nghệ thuật của xứ sở trong tương lai.

Các bài khác của chương II đều là những câu hỏi đi sát những vấn đề cơ bản của hội họa, và cách trả lời sinh động, sắc sảo, mở ra cho người đọc những khung trời độc đáo của mỹ thuật, mà một người bình thường không mấy khi có dịp biết tới. Chẳng hạn “Hình như bên nghệ thuật tạo hình, lý thuyết bao giờ cũng đến sau thực hành của các nhà nghệ sĩ. Lý thuyết dẫn dắt cuộc sống hay cuộc sống là nguồn cội của lý thuyết? (...) Riêng về nghệ thuật, lý thuyết luôn đi sau sáng tạo.”

Hoặc: “Chính trị nào thì sẽ sản sinh ra nghệ thuật ấy, do đó, hội họa cổ điển của các thế kỷ từ 14 đến 19 phần lớn bị phủ bóng của nền chính trị phong kiến-Thiên Chúa giáo, trái lại nghệ thuật hiện đại là sản phẩm của nền chính trị-dân chủ-tự do được khai sinh từ sau cuộc cách mạng Pháp năm 1789.”

Một điểm nổi bật của cuốn sách này là phương diện hình thức. Rất đẹp. Hẳn độc giả sẽ nói, sách của một họa sĩ viết về mỹ thuật thì dĩ nhiên phải đẹp rồi. Có thể là như vậy, nhưng không phải luôn luôn như vậy. Riêng cái đẹp ở quyển sách này không chỉ bắt nguồn từ sự trình bày chăm chút của bàn tay nghệ sĩ -- tôi nghĩ chính cuốn sách đã là một tác phẩm nghệ thuật rồi -- mà chính yếu là kho tư liệu mỹ thuật cổ kim mà tác giả sưu tầm rất dồi dào và in với màu sắc tuyệt hảo, đầy đủ theo từng bài để minh họa cho những giảng giải, lý luận của mình. Đây là một điều hiếm có trong sách vở của người Việt Nam, trong đó kiến thức, trí tuệ, tài liệu, kỹ thuật, mỹ thuật đều nảy nở đồng bộ, nâng quyển sách thành một tác phẩm có giá trị về mọi mặt.

Nội dung và hình thức của cuốn Nhận Định Và Những Câu Hỏi Về Mỹ Thuật của họa sĩ Trịnh Cung là đúc kết những hiểu biết sâu rộng về nghệ thuật tạo hình, những ưu tư về tình hình sinh hoạt mỹ thuật trên thế giới và Việt Nam, giúp người đọc cảm thấy gần gũi hơn với một lãnh vực rất cần thiết trong cuộc sống tinh thần và tình cảm của mình là thẩm mỹ, nhưng phần đông ít ai để ý tìm hiểu. Một quyển sách đáp ứng khá đầy đủ về mặt kiến thức mỹ thuật lẫn phương diện thẩm mỹ cho những ai đọc nó và thưởng thức nó. Và dĩ nhiên cần có nó trên kệ sách của mình như một hiện thân của cái ĐẸP.

22 tháng 9, 2017

Phạm Xuân Đài

Monday, August 14, 2017

Giới thiệu bản dịch tiếng Anh của bài Những Gì Thấy Được ‘Trong Đống Tro Tàn’ của Trần Văn Thủy


Đầu năm 2017, nhà xuất bản Người Việt tại Nam California đã ấn hành cuốn “Trong Đống Tro Tàn” của Trần Văn Thủy, một nhà văn và nhà đạo diễn phim ảnh nổi tiếng ở Hà Nội. Ở đầu cuốn
Trong Đống Tro Tàn có đăng bài giới thiệu nhan đề:
Những Gì Thấy Được ‘Trong Đống Tro Tàn’ của Trần Văn Thủy
của PHẠM PHÚ MINH

Một người Mỹ, Giáo sư Eric Henry, bạn của nhà văn Trần Văn Thủy đã dịch bài này sang tiếng Anh vào tháng 6, 2017, chúng tôi xin hân hạnh được đăng tải dưới đây.
Bạn đọc nào muốn đọc lại nguyên bản tiếng Việt của bài này có thể bấm vào một trong những đường nối sau đây :
http://phamxuandai.blogspot.com/2017/05/nhung-gi-thay-uoc-trong-ong-tro-tan-cua.html
http://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/nhung-g-thay-duoc-trong-dong-tro-tn-cua-tran-van-thuy-2/
https://www.nguoivietshop.com/news/những-gì-thấy-được-‘trong-đống-tro-tàn’-của-trần-văn-thủy/
https://sangtao.org/2017/02/15/nhung-gi-thay-duoc-trong-dong-tro-tan-cua-tran-van-thuy/
http://www.boxitvn.net/bai/46824
https://uyennguyen.net/2017/03/14/pham-phu-minh-nhung-gi-thay-duoc-trong-dong-tro-tan-cua-tran-van-thuy/
DĐTK
                                                        

Points That May Be Observed in 
“The Heap Dusty Ashes” by Trần Văn Thủy
(Những Gì Thấy Được ‘Trong Đống Tro Tàn’ của Trần Văn Thủy)
Phạm Phú Minh
Translated by Professor Eric Henry




The writer, film director Trần Văn Thủy and Professor Eric Henry in Hà Nội, July, 2017

To the best of my knowledge, the writer and film director Trần Văn Thủy is the first person living in the contemporary society of Vietnam who set forth the problem of kindness in his own productions. His documentary film On Being Kind was made in 1985, and after being shown several years later, it created a great upheaval in the consciences of viewers, not just in Vietnam, but in many places around the world.
What does this mean? What is this about kindness? Well then, what is strange about it? Is it not the case that from the time of the creation of Heaven and Earth, human beings have lived amid an endless struggle between Good and Evil—this reminds me of the name of an American film, From Here to Eternity, or as the French render the title, Tant qu’il y aura des hommes—as long as there are people—as long as people still exist. The English and French titles of this famous film both allow us to see that the conflict between Good and Evil will continue forever in human society, a fact impels us to think more deeply, as we perceive that the essence and goal of our lives is to do our best to push down that which is evil, so that good can rise to the top.
But on reflection we observe an odd thing, that the spiritual hierarchy according to which Good and Evil are distinguished was determined long, long ago, and perhaps arose directly as an instinct inherent in living things: life is good, murder and destruction are evil; love is good, hatred is evil; freedom and ease are good, imprisonment and limitation are evil; invention and development are good, backwardness and lack of progress are bad; being well-fed and warmly clothed is good, hunger and nakedness are bad. One could go on endlessly listing these pairs of good and evil opposites—a sign that the destiny of human beings is unstable, but the experience of living and the spiritual development that goes along with becoming a mature person both affirm the direction that we need to follow and, and show us what things we need to eliminate. This consciousness has created a kind of TRUE DOCTRINE of life, common to all people east and west, ancient and modern.
That people should live in kindness with others and with nature is merely a principle that already lies within the True Doctrine of life, but the reason a person like Trần Văn Thủy had to make a film so as to set this forth as a grave problem of conscience is because life under the system governing the Vietnamese appeared to be lacking in Goodness, and in fact seemed to be inclining toward evil. This was not a question of Good and Evil within an ordinary society, but was the result of the policies of an unusual regime. Due to this, the crisis resulting from the tendency of Evil to suppress Goodness became daily more evident: it became a crisis for the country as a whole.
The film On Being Kind first appeared in 1985—counting back from the present year, 2016, that was thirty-one years ago. So where has the journey of this film and the man who made it brought us by now? The tale of the secret smuggling of this film across Vietnam’s border so that it could be shown at the Leipzig film festival at the end of 1988 could be the subject of a breathlessly suspenseful detective film. And when the film’s maker slipped across the border to France on the same evening when the film was shown and enthusiastically received at the Leipzig film festival, this was in itself every bit as suspenseful. Only after arriving in France did the film’s maker learn that On Being Kind had won the Silver Dove award at the Leipzig festival. Then it was shown in theaters and on television in France. And after that, many other countries purchased rights to the film and showed it.
When participating in the festival where On Being Kind was shown, Director Trần Văn Thủy stood on a terribly thin, fragile line; either the film would win a prize and he would become a man of achievement who could safely return to Vietnam, or, if the film gained no award at all, he would have no choice but to become an exile in Western Europe.
But “Kindness” smiled on him, and today, at the age of seventy-six, Trần Văn Thủy has consolidated his career with the book Thủy’s Craft (Chuyện Nghề Của Thủy), and the book Amid the Heap of Dusty Ashes that you, reader, are now holding in your hands. What Thủy’s “heap of dusty ashes” refers to depends on how the reader sees it, but as for the author, I would guess that the name is in some sense a summing up of his personal journey throughout the last fifty years (1966 -– 2016). It doesn’t necessarily carry a negative meaning, as when we stand before the remains of a house consumed by fire with nothing remaining but ashes—it is rather the summation of a period encompassing nearly the whole of his life filled with unending vicissitudes on a theme nearly unique: kindness. This “heap of dusty ashes” is merely a manner of speaking, and perhaps includes a suggestion that somewhere in this disorderly heap there may remain a few embers from which Goodness may burst into flame again.  
But one thing is for sure; in this heap that the author refers to as “ashes” there lies a heart stirred into a blazing passion by all the events of his life. Many of these events are recounted in this book, and the reader, going through them, will encounter tales of joy and sorrow, memories of past events, nearly all of which have one theme; the elevation of the moral nature of man, a theme that all the great religions have recognized and used to lead humanity. This is perhaps the author’s final literary production, for it even contains a “last will and testament” in the chapter “Some Words Left to Others,” in which the author gives directions for everything that is to be done after his passing. These words seem very much like the author’s Last Wishes, including as they do many concrete instructions for the conduct of his funeral, as well as family and clan matters. At the end of this chapter he writes: 
It seems that in this life, there are few if any people who, when they close their eyes and unclench their hands for the last time, do not feel regret for one thing or another. As for me, I regard myself as an ordinary person who has done his best in every situation to do his duty. But my powers are limited; I just feel sorry for the young ones, for our grandchildren. They will come into a meager and scattered inheritance only. It won’t be easy for them to enjoy happy lives in the full sense of the expression, such as we of our generation have wished for them. 
But in any case, I wish to express the sincere wish that every one of them will be able to live lives full of happiness, and live in the peace and purity of a society that is more honest, more tolerant, than in the past.
What he regrets is that his grandchildren’s generation will not be able to enjoy happiness in a complete sense, such as his own generation had wished for them—in other words to live in a society more honest and kind. The word “more” here is full of significance and reflects the sad facts of modern Vietnamese society.
Chapter 2, “My Father,” is the essay that I feel is the most important in the book. In recounting the story of his father’s life, he clearly states that he is “fondly remembering his teacher”—the man who was his biological and spiritual father—which shows the depth of love and respect with which he regards this figure, who, it seems to me, served as a model, a mirror, for his entire life.
There was one thing his father said that the author, throughout his life, was unable to forget, a sentence calmly uttered after he had witnessed the execution by shooting of a close friend, uncle Phó Mâu, during a “struggle” session. 
After the day when he returned to Cồn Market to bury uncle Phó Mâu my father went upstairs to lie down. A moment later, he called me and Lại, my next younger brother, upstairs. The two of us sat and waited for his instructions. He continued lying there, his arm across his forehead, without saying a word. I don’t know why, but whenever my father was silent like that, I was very fearful. I spoke to him very quietly:
“What do you have to say to us, father?”
Shortly afterward he uttered one short sentence:
“All — is — ruined, my sons”
I didn’t understand. At that time I understood nothing. Again I asked, “What is it you wish to tell us?”
“Uncle Phó Mâu and I helped the Việt Minh in all sorts of ways—and now he has suffered an unjust death! There is nothing left for me to believe in anymore!”
Throughout my life, I have been continually aware of all that my father said to me. This is not the place tell about all of these things, but that sentence, so full of pain and reluctance, “All — is — ruined, my sons” I will surely be unable to forget even as I descend to the grave.   
Surely, when a youth hears his father utter such a sentence amid a set of special circumstances in his country, it will become something impossible for him to forget. “All — is — ruined, my sons,” a blanket, sweeping expression of a total collapse within the spirit of the father, who conveyed to his sons a consciousness of the future of the society in which they lived, with who nows [knows] how much hope that this regime would open up a splendid new period for the country. “All is ruined” was the crucial mark or scar laid down in the soul of the author when he came into adulthood, so that throughout his life he would strive to perceive in what ways society was ruined; and the impression made by this utterance served as a guide to his behavior, so that he could raise a voice of warning to everyone concerning an endlessly tragic crisis threatening an entire people.
In this book, which the author evidently considers his last effort, we feel that the chapter “My Father” is the place where Trần Văn Thủy states what he most fiercely believes in this life, which is the True Doctrine transmitted to him by his father. His father had received this True Doctrine from the age-old traditions of the people of Vietnam, and it was in no way different from the True Doctrine held in common by humanity for thousands of years.
Trần Văn Thủy ponders this basic question in the various other chapters of this book. He is in essence a documentary filmmaker, a man who throughout his career always noted and reduced to writing the various topics that should be made into films—but alas, not many of these intentions of his have turned into realities. In the chapter “Scripts That Didn’t Turn Into Films,” he records the content of those of his cinematic children who never saw the light of day, mentioning many details, and sometimes expressing rage.
For example, as early as 1980, he had a filmscript about Trịnh Công Sơn:
Another film script that pleased me no end was when I wrote about Trịnh Công Sơn in 1980. Perhaps because I had just returned from Russia and had just finished making the well-known film “Betrayal” (1979 – 1980) and was eager for more notariety, I wrote about Trịnh Công Sơn. I wrote about the months and days in which, as I lay in the mouldy tunnels of the southern warfront (1966 – 1969), I would stealthily listen to the Saigon broadcasting station and get gooseflesh as I listened to the songs of Trịnh Công Sơn, hearing such lines as, “The cannons echoing night after night in the city, The street sweepers suddenly stop their sweeping to stand still and listen; the Vietnamese girl with golden skin… I was obsessed by the people of the South, and the music of Trịnh Công Sơn. How could I have loved it to that extent? Why was I so deeply stirred by it? The problems I laid out in the script didn’t have to do only with the mesmerizing melodies and lyrics of Trịnh’s music, but centered on a question I asked myself: What was the region, what was the culture, what was the character, that had created this pure and good soul, that had created a person of such sincerity? If, in the words of Karl Marx, “A human individual is a product of the fusion of many social relationships, then why did the society of the South, permeated by the crimes and refuse of the American puppet government—produce a Trịnh Công Sơn?
Thirty years after making On Being Kind to awaken feelings of compassion in the society in which he lived, Director Trần Văn Thủy acknowledges with bitterness that he still lives in the kind of society that provoked him to make the film, but:
Nowadays, under a regime that does everything in the name of excellence, people see no end of regrettable things in the relations of people with each other—greed, factionalism, and dishonest political deals. Virtue has declined to a fearful extent…   
Everybody knows that courts and laws serve only to resolve situations that arise as the result of people’s actions; if you want to go further and stop the buds of evil from maturing, to eliminate it when it is still in embryo, that is, when it exists only in people’s thoughts, then nothing is as good as religion. (…) Religion in the general sense, anything that teaches truth and rectitude, urges people to think of Goodness, to perform acts of Goodness, to avoid evil, to distance themselves from evil. In this way, such teachings make a positive contribution to the enterprise of preserving virtue, order, and stability in society, and makes for a stronger, healthier nation…
Every chapter in this book concerns a matter of interest and, one can say, has an attractive character, but all are suffused with strong feelings that sweep the reader into he [his] discourse. The writer observes the people he knows, together with the joyous and sad things that have happened to him, with great acumen, and when he relates them, all these things turn into lessons for the reader, lessons concerning character, concerning an attitude of living in the world with an unchanging concern: to focus vigorously On Being Kind and compassion.
The author has a very broad range of relations; the topics he writes about range from the filmmaking world of Japan to Americans active in cultural or charitable activities, from making a film about the cathedral complex in Phát Diệm with its unique architecture, to a doctor of rare character who cared for lepers, Dr. Trần Hữu Ngoạn. On finishing the chapter devoted to this last figure, the reader feels constrained to cry out, “There was a saint or a bodhisattva! And he has a chapter on the musician Phạm Duy, whom he revered from the time he was little.
With the sensitive, discerning eye of a documentary film director, along with a spirit that elevates Goodness and opposes Evil, and in addition to this the sharp shrewdness of a person who has lived his life within restrictions, and has always thirsted to tear down the walls surrounding him to promote principles that did not at all accord with the paths taken by the society he lived in, Trần Văn Thủy is entirely worthy of an observation made by the American Larry Berman: 
 “... it was a war that ravaged so many, yet left us with survivors like Tran Van Thuy, war photographer, filmmaker and ultimately philosopher.”
[excerpted from an introduction to the English translation of his autobiography entitled “In Whose Eyes.”] 
In view of the role Trần Văn Thủy has played, and looking at the society in which he had to live, and at the way in which he drew observations, judgements, and analyses, so as to tear down the fiendish ideological barbed wire fence in the era in which we live—we can see that, quite apart from his professional role as a filmmaker, he is truly a philosopher, a philosopher who charges into the fray of existence with deep and courageous books and films.
For example, when we watch the film On Being Kind, or at least look at the film script, which the director himself wrote, we will see how crucial the ideas in this script are. With no script, the film would be a silent movie; that much is obvious; but what is important are the words that Trần Văn Thủy put into the script. Those words are the soul of the film. They are succinct and easy to understand, but they have a wide application—whatever one sees or hears goes to the heart of the matter, and the film has a special ability to cause the viewer to understand things beyond what he actually sees. Thus, inherent in the script is a philosophy of events and things that raises them to a higher level of generality.  
With great rapidity the world caught the significance of the humane signals that Trần Văn Thủy had implanted in the film On Being Kind. In the late 1980s more than ten large television stations throughout the world purchased the rights to the film, and the American John Gianvito named the film as one of the ten best documentary films ever made. Such a thing had never previously happened in the history of Vietnamese cinema.
More than ten years ago Trần Văn Thủy published a book entitled If You Go to the End of All te [the] Seas in which he posed a question both concrete and metaphysical: if you cross all the seas, where will you arrive? Starting at the outset with the concept of a round world, the author expressed the view that, “If you cross all the seas, all the oceans, and cross all the continents, traveling ever onward, ever onward, you will in the end come back to your homeland, to your own village. But many years later, when he went to the United States, only then did he see that the Vietnamese in distant lands had crossed all the oceans, all the continents, going ever onward, but were in the end unable to return to their homelands, their villages.
The newest book, Within the Heap of Dusty Ashes, gives us the impression that the author does not pose that question to himself any longer. The geographical road, whether on the face of the earth or the sea, is clear—if you keep going further, you can return to the place you started from. But for the road that passes through people’s hearts and all its entanglements with life, one cannot lay down any simple route. The feelings and objectives of the Vietnamese when they thrust their boats into the open sea so as to cross oceans were not such as to make them ask themselves the romantic question about where they could arrive if they went to the end of all the seas. They instead aimed to arrive at some harbor where they could live a free life worthy of a human being. But their lives grew settled in their new surroundings; then, for sure, the road turning back to their homelands still existed in their hearts in many different forms, political, economic, sentimental… and oftentimes only as a dream of returning to a land finer than before, more worthy to be lived in.
But it is surely not the case that the only such road is a concrete one with two directions, going out and coming back, circumscribing our lives. Anyone at all can open numberless roads in his or her heart leading to numberless places that the work Within the Heap of Dusty Ashes itself refers to repeatedly: the road of a kind heart, the road of benevolence. The road of human feeling is wide and vast…
When the musician Phạm Duy wrote the concluding words to his song cycle The Mandarin Road, he depicted the mental state of a Vietnamese who, arriving at the southern peninsula of Cà Mâu, has completed a southward journey through the land’s entire length:
My journey has reached its end! The hearts of people are joined!
May you halt here for a moment in joy!
What you have dreamed of now is here!
The road dissolves the borders,
That people may forever
Travel in a realm of feeling everlasting.
The roads of the world lead far
In the hearts of people of all lands.
Could it be that when he wrote these words in the year 1960 Phạm Duy had a presentiment of the roads of the world “leading far” that the Vietnamese people would travel, and that later raised a perplexity with regard to the journey’s end in the mind of Trần Văn Thủy? But Phạm Duy also saw the joy to be found in “a realm of feeling everlasting”—could it be that this is the feeling of humanity, of kindness, of love, that Trần Văn Thủy strove to awaken and promote throughout his life, so that it would win out over crudity and evil?
South California, Nov. 1, 2016 
Phạm Phú Minh


Nhớ Đinh Cường


Tuần qua, trong khi xem lại một số giấy tờ cũ, tôi tình cờ thấy mấy bức thư của họa sĩ Đinh Cường.

Trong thời gian tôi làm báo Thế Kỷ 21 từ năm 1993 đến 2007 tại Quận Cam California, Đinh Cường là một trong những họa sĩ thường liên lạc với tòa soạn nhất. Thư từ anh gửi phần lớn qua đường bưu điện chứ không mấy khi dùng email, lý do dễ hiểu là anh thường gửi các mẫu tranh để làm bìa báo, hoặc các vignettes để giúp tòa soạn trong việc trình bày trang báo. Cũng nhiều khi chỉ là vài lời thăm hỏi viết trên một tấm thiệp, hoặc thông báo một sinh hoạt nghệ thuật tạo hình nơi anh đang sống.


Tấm thiệp chúc tết Đinh Hợi của Đinh Cường, cách đây đúng mười năm


Nhớ lại, niên khóa 1957-58 tôi từ miền Trung vào học Đệ Tam C tại trường Trương Vĩnh Ký Sài Gòn, tết năm ấy trên tờ báo Xuân của trường tôi lần đầu tiên thấy tên Đinh Cường. Lúc đó anh đang học Đệ Nhất, hơn tôi hai lớp, viết một bài báo về họa sĩ Picasso. Là dân tỉnh lẻ mới vào học ở thủ đô, tôi lấy làm phục cách làm báo xuân quy mô của một trường lớn, và rất lạ là cho tới bây giờ hai cái tên Picasso và Đinh Cường là cái duy nhất tôi còn nhớ lại từ tờ báo ngày ấy.

Năm 1966, khi chúng tôi một nhóm giáo chức tổ chức Chương Trình Sinh Hoạt Thanh Niên Học Đường (CPS) trụ sở đóng tại các nhà tiền chế trên nền cũ của Khám Lớn Sài Gòn thì ít lâu sau có ngay một số láng giềng đáng mến: hội Họa Sĩ Trẻ, rồi đoàn Văn Nghệ Nguồn Sống cũng đến đặt trụ sở trên miếng đất rộng mênh mông này. Tại hội Họa Sĩ Trẻ tôi thường gặp các bạn Hồ Thành Đức, Nguyễn Trung, Nghiêu Đề, Trịnh Cung... nhưng ít khi gặp Đinh Cường. Có thể nói các năm 1966, 1967 là thời gian sinh hoạt của giới trẻ Sài Gòn đạt những thành tựu rất đẹp. Từ cái nền của nhà tù khét tiếng thời thực dân ấy, một sức trẻ vươn lên với tất cả thiện chí, tài hoa và tinh thần phục vụ xã hội rất cao. Trên vết tích u ám của quá khứ ấy đã xuất phát biết bao trại công tác đi về vùng giới tuyến, trại cứu trợ bão lụt miền Trung, công tác cứu trợ nạn nhân chiến tranh...; tại cái sân khấu đơn sơ nghèo nàn của quán Văn trước sân trụ sở CPS, Khánh Ly đi chân đất đứng trên một cái két bia bằng gỗ để hát nhạc Trịnh Công Sơn với tiếng đàn đệm và tiếng hát bè của nhạc sĩ họ Trịnh, hết tối này qua tối khác mang lại một cảm hứng nghệ thuật mới mẻ dạt dào; các sáng tác hội họa của các bạn “họa sĩ trẻ”, một lứa nghệ sĩ đầy tài năng và tài hoa của một miền Nam đầy tai họa chiến tranh...


... Rồi mãi đến khi ra hải ngoại. Tôi làm báo ở Nam Cali, Đinh Cường vẽ vời và làm thơ ở tiểu bang Virginia bên cạnh thủ đô nước Mỹ. Dù không mấy khi gặp nhau, vẫn gần gũi qua thư từ, nhất là những bức tranh dùng làm bìa báo bạn tặng. Cường biết sự khó nhọc và khó khăn của nghề làm báo, nên lúc nào cũng hỗ trợ và khuyến khích. Khoảng cuối năm 2006 bạn qua Quận Cam chơi, ghé thăm “tòa soạn” của báo Thế Kỷ 21, tức nơi tôi cư ngụ, một cái mobile home trên đường Bolsa. Cường có vẻ thích căn nhà nhỏ, bên ngoài có mảnh vườn chút xíu với nhiều hoa lá, đặc biệt giàn bông giấy đỏ rực ở hiên, bên trong đơn sơ đạm bạc. Cường đi quanh chỗ phòng khách và phòng ăn, nhìn trên tường đã đầy tranh của Hồ Thành Đức, Nguyễn Trọng Khôi, Khánh Trường... cuối cùng tìm ra được một chỗ trống là cái hông của tủ để TV ở phòng khách, bề ngang chỉ khoảng nửa thước, liền nói với tôi: “Tôi sẽ gửi tặng ông một bức tranh nhỏ để treo chỗ này.” Tôi cảm động vì từ khi vào nhà, Cường cố tình tìm một chỗ để treo một bức tranh mà Cường định tặng tôi, nhưng nhà nhỏ, không gian treo tranh rất ít ỏi...

                    
















Bức tranh Bóng chim soi dòng thời gian của Đinh Cường (bên phải) bên cạnh bức tranh trừu tượng của Khánh Trường

Độ nửa tháng sau tôi nhận được bức tranh qua đường bưu điện, kích thước vừa để treo nơi Cường đã chọn, nhưng tôi không treo ở đó mà dọn dẹp một nơi khác trang trọng hơn cho bức tranh của người bạn quý. Cùng với bức tranh, Cường gửi cho tôi mấy dòng viết trong một tấm thiệp đề ngày 1 tháng Sáu năm 2007, và bản copy bài viết về bông giấy của Huỳnh Hữu Cửu mà chúng tôi cho đăng lại trong số này.






























Mới đó mà đã mười năm rồi. Bức tranh của Đinh Cường đã ở cùng chúng tôi mười năm. Tôi cũng đã ngưng làm tờ Thế Kỷ 21 đúng mười năm.

Và Đinh Cường, cuối cùng cũng đã rời bỏ chúng ta.

12 tháng 8, 2017
PPM





Dàn bông giấy đã khiến Đinh Cường gửi bài Bông Giấy 

của Huỳnh Hữu Cửu tặng chủ nhà.

Friday, July 7, 2017

Câu chuyện bốn câu lục bát

  Riêng gửi Hằng, người đã đặt ra vấn đề văn nói và văn viết .

Trong một lần trao đổi với bạn bè về đặc tính của văn nói và văn viết, không biết tại sao tôi lại liên tưởng đến đến hai cặp câu thơ của Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Du:

Thursday, June 29, 2017

TRANH VẼ TẠI MONTMARTRE


Hôm nay một ngày cuối tháng Sáu năm 2017, theo gợi ý của Ngọc Dung người sáng lập và thực hiện blog Nét Xuân Sơn này, tôi xin đặt vào đây một bức họa chân dung của chính tôi được thực hiện cách đây 21 năm tại Paris.

Wednesday, June 28, 2017

Monday, June 26, 2017

Chiều 24 tháng 6, 2017


Trong dịp kỷ niệm 25 năm thành lập VAALA, 
tại nhà bác sĩ Hà Quốc Thái, Los Alamitos, 
chiều 24 tháng 6, 2017.

Saturday, June 24, 2017



Gửi cả nhà,

Tối qua tôi mới nghĩ ra điều này, nhờ cả nhà kiểm chứng hộ về phương diện khoa học: cái tổ chim không phải là "nhà" của loài chim, mà chỉ là "nhà hộ sinh" của giống có lông vũ thôi.

Nhớ lại, chuyện làm tổ của loài chim hình như chỉ có mục đích đẻ và ấp trứng, chứ tôi không thấy có con chim nào làm tổ để ở cả. Gần gũi mình nhất là con gà. Khi gà mái đi lanh quanh trong nhà ngó dáo dác và cất tiếng kêu lạ (thường gọi là gà kêu ổ) thì ai ở nông thôn cũng biết là con gà đang có nhu cầu tìm chỗ đẻ trứng, và lo tìm một cái rổ cũ lót rơm vào và đặt vào một chỗ thích hợp để gà đẻ và ấp trứng. Khi trứng nở ra gà con thì người ta mang hết mẹ con chúng nhốt vào một cái lồng rải tấm cho gà con ăn và để nước cho chúng uống, độ một tuần cho gà con cứng cáp rồi thì thả ra cho gà mẹ dẫn đi ăn, tối về tìm một xó chuồng nào đó gà mẹ xòe cánh ủ đàn con đi ngủ chứ không bao giờ dùng tới cái "ổ gà" nữa.

Quan sát các loài chim khác mình cũng thấy như vậy, chưa thấy có loài nào dùng ổ làm nơi trú ngụ. Đó chỉ là nơi đẻ trứng ấp con. Khuya hôm qua rồi sáng sớm hôm nay lúc 5 giờ, chúng tôi ra xem cái tổ của con chim hút mật thì thấy rỗng không. Mẹ con con chim không bao giờ còn về lại cái tổ ấy nữa. Nhiệm vụ cái tổ đã xong rồi.


m

Sunday, June 11, 2017

MÊ HOANG

Mùa hè năm nay của tôi bắt đầu với bài thơ này 

Tuesday, May 30, 2017

Sequoia and Yosemite 05/27/2017



T và D,

Đi ba ngày ngồi xe và lên núi vào rừng đối với anh bây giờ là việc nặng nhọc. Sáng nay mới thấy thấm mệt. 

Tuy vậy, khi đã vào với thiên nhiên nhiều lúc anh quên cả tuổi tác và sức khỏe. Những trạng thái "quên" như thế có thể rất có lợi và cũng có thể rất có hại.

Cách đây 20 năm khi mới qua Mỹ anh đã cùng vài người bạn vào Sequoia thuê cabin sống mấy ngày, đã khám phá tạm đầy đủ. Bây giờ vào lại thì thấy mình già hơn 20 tuổi, nhưng núi rừng sông suối thì vẫn vậy. Đối với một cây cổ thụ có số tuổi 1700 năm mà anh đã đối diện năm trước thì 20 năm đối với nó có là gì đâu, nhưng ở quãng cuối một đời người thì số năm ấy chẳng phải chuyện chơi. Đời người quả chẳng là bao, có phải vì thế mà người ta để ý đến phẩm chất của từng giây phút sống hay không?

Còn lần đi Yosemite đầu tiên là khoảng trước hay sau năm 2000 một hai năm, đi đóng trại và ở lại 5 đêm trong rừng. Thật ra là đi với gia đình Đỗ Anh Tài, các con của Tài đi cắm trại Hướng đạo, đã đóng riêng cho bố mẹ và hai bác Minh một cái lều to tướng có hai phòng ngủ, lần đó cũng khám phá đầy đủ Yosemite.

Lần này đi theo tour du lịch, một chiếc xe bus to tướng đầy nhóc người, thăm Sequoia ngày thứ bảy, Yosemite ngày chủ nhật. Đúng là chỉ cỡi ngựa xem hoa, nhất là long weekend, xe tràn ngập núi rừng, trễ nãi và chương trình phải thay đổi hết. 

Ấn tượng mạnh nhất mà anh cảm thấy trong lần này là các dòng suối, mà người ta gọi là river. Cuối tháng sáu là thời điểm từ các đỉnh núi tuyết tan nhiều nhất nên các dòng suối vô cùng sung mãn, nước đầy ắp cuồn cuộn chảy, gây cho lòng người, nhất là người Nam Cali quanh năm khô hạn, nhiều nỗi niềm xúc động sâu xa. Nó không hiền lành như suối của Văn Cao Suối mơ bên rừng thu vắng, dòng nước trôi lửng lờ ngoài nắng, nhưng nó mang tính chất nước nguồn vừa ở trong núi tuôn ra, thanh khiết, hùng dũng, ngây ngất.

Anh đã quay nhiều đoạn suối chảy, say mê lắm, hai chị em nghe thử nhé.



Một điều D mới nhắc rất đúng mà lần này anh mới để ý: đó là có những đoạn đường đèo xe chạy sát bờ vực sâu thăm thẳm không có bao lơn ngăn chặn, ngồi trên xe bus cao nhìn xuống anh cảm thấy thực sự sợ hãi, một cảm giác những lần đi trước không nhận thấy. Nếu xe sẩy bánh rơi xuống vực thì chắc chắn không có ai còn sống, vì chiều cao của vực có lẽ đến nhiều ngàn mét. Sợ, nhưng cũng là một cảm giác thú vị hiếm hoi lâu lâu mới có dịp nếm trải.

Đi chuyến này anh gặp ông John Muir của D nhiều lần, vì các câu ông viết về sự khám phá núi rừng được trích dẫn khá nhiều. Trong một gift shop trong rừng Sequoia anh thấy một câu của ông được in một cách trang trọng và bày bán cho du khách. Câu ấy khá đơn giản khi đọc qua anh tưởng là mình có thể nhớ được, nhưng sau đó thì quên, chỉ nhớ một mệnh đề chót đại khái: you must go there. There ở đây dĩ nhiên là núi rừng.

Friday, May 12, 2017

NHỮNG GÌ THẤY ĐƯỢC ‘TRONG ĐỐNG TRO TÀN’ CỦA TRẦN VĂN THỦY



  
Theo sự hiểu biết của tôi thì nhà văn, nhà đạo diễn điện ảnh Trần Văn Thủy là người đầu tiên sống trong xã hội Việt Nam đương thời đã đặt vấn đề Tử Tế bằng tác phẩm của mình. Cuốn phim tài liệu Chuyện Tử Tế của ông thực hiện năm 1985, được công bố ít năm sau đó, đã gây một chấn động trong lương tâm của con người, không những của người Việt Nam mà còn nhiều nơi trên thế giới.